Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất

TCCS - Quan tâm chăm lo cuộc sống cho mọi người dân là bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã coi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khát khao mong muốn lớn nhất là: “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó chính là những tư tưởng và hành động vì một xã hội an sinh, nhân bản, là cơ sở cho việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện trong toàn bộ quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước.


Thực trạng hệ thống an sinh xã hội ở nước ta
Những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Các chương trình, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng:
Về giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và giảm nghèo
- Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, như chương trình cho vay vốn ưu đãi giải quyết việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động... đã thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm. Hằng năm đã giải quyết việc làm cho 1,6 triệu lao động; trong đó tỷ lệ thất nghiệp chung giữ ở mức 2,3%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 6,3% năm 2000 xuống 4,17% năm 2011; thu nhập bình quân của người lao động năm 2011 đạt 2,27 triệu đồng/tháng.
- Các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh, từ 22% năm 2006 xuống còn 9,5% năm 2011; thu nhập bình quân của hộ nghèo năm 2010 tăng 2,3 lần so với năm 2005.
- Bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển đáng kể, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2011 đạt 10,1 triệu người, bằng gần 20% lực lượng lao động; bảo hiểm xã hội tự nguyện thu hút được trên 104 nghìn người tham gia; trên 7,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân. Số người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tăng nhanh, từ 700 nghìn người (năm 2007) lên 1,674 triệu người (năm 2011), chiếm 2% dân số; phong trào xã hội hóa chăm sóc đối tượng chính sách được mở rộng, năm 2011 cả nước có khoảng 580 cơ sở bảo trợ xã hội, hơn 1/3 trong số đó là các cơ sở ngoài nhà nước, nuôi dưỡng 20.000 người. Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội thường xuyên, người già cô đơn, người khuyết tật nặng và tâm thần, trẻ mồ côi... được hỗ trợ, cuộc sống đã ổn định về cơ bản.
Công tác trợ giúp đột xuất được tăng thêm và phát huy hiệu quả. Mỗi năm Nhà nước chi khoảng 1.000 tỉ đồng và khoảng 50 - 60 ngàn tấn gạo  hỗ trợ người dân ở các địa phương khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống; các phong trào tương thân, tương ái có đóng góp đáng kể vào hỗ trợ đột xuất cho cộng đồng  gặp rủi ro.
Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác.
- Giáo dục đã cơ bản hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở các cấp tăng đều hằng năm; mỗi năm dạy nghề cho 1,8 triệu lao động; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08 lần; quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần; năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, lao động qua đào tạo nghề là 25%; đã hình thành trên 10.000 trung tâm học tập cộng đồng và gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe đạt nhiều kết quả nổi bật: năm 2011, 90% số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; mạng lưới y tế thôn bản được củng cố; tuổi thọ trung bình của người dân đạt 73,2 tuổi; số lượng người tham gia bảo hiểm y tế đạt 58,5 triệu người, chiếm 67% dân số cả nước.
- Điều kiện về nhà ở được cải thiện là kết quả của việc triển khai hàng loạt chính sách, chương trình hỗ trợ về nhà ở của Chính phủ cho người nghèo, học sinh, sinh viên, công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung và người có thu nhập thấp tại đô thị; chương trình xóa nhà tạm cho hộ nghèo trong giai đoạn 2001 - 2010 đã đưa tỷ lệ hộ gia đình thuộc diện này giảm từ  24,6% xuống 5,6%.
- Giai đoạn 2005 - 2010, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đã tăng từ 62% lên 80%. 
- Thông tin truyền thông cho người nghèo, vùng nghèo được thực hiện thông qua chính sách cấp miễn phí một số loại báo, tạp chí...  Đến nay, Nhà nước đã cấp miễn phí 18 tờ báo, tạp chí và 20 loại ấn phẩm chuyên đề, báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn với tổng lượng phát hành hằng năm trên 31 triệu bản. Hệ thống phát thanh, truyền hình cơ bản phủ sóng đến thị trấn, thị tứ, bản dân cư tập trung vùng cao, nhiều địa phương đã có chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc.
Nguồn lực cho an sinh xã hội được xã hội hóa cao cả về tài chính và tổ chức thực hiện. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã huy động sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp và sự tham gia của người dân. Giai đoạn 2003 - 2011, tổng chi cho an sinh xã hội liên tục tăng, bình quân mỗi năm chi 95 nghìn tỉ đồng, bằng 6,6% GDP, trong đó, ngân sách nhà nước chiếm 51% mức tổng chi.
Một số hạn chế cần khắc phục
- Công tác tạo việc làm chưa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn có xu hướng tăng từ 1,05% năm 2000 lên 2,27% năm 2011. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, năm 2010 lao động nông nghiệp vẫn chiếm 50% tổng số lao động, ở vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ này là trên 92%.
- Giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo còn rất cao. Bất bình đẳng có xu hướng tăng, hệ số GINI tăng từ 0,35 năm 1998 lên hơn 0,4 năm 2010.
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp, mới bằng 20% lực lượng lao động (năm 2011). Bảo hiểm bắt buộc mới bao phủ 70% lao động thuộc diện bắt buộc tham gia, nguy cơ mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội cao; bảo hiểm xã hội tự nguyện mới thu hút 0,22% số lao động thuộc diện tham gia...
- Diện được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên còn hẹp, mức chuẩn trợ cấp thấp; xã hội hóa công tác chăm sóc người yếu thế chưa phát huy hết tiềm năng của cộng đồng và xã hội; tỷ lệ bao phủ của chính sách hỗ trợ cũng như mức trợ cấp còn thấp, chưa tách bạch rõ nhiệm vụ xác định đối tượng và chi trả.
- Phạm vi hỗ trợ rủi ro đột xuất còn hẹp, mức hỗ trợ chưa bù đắp, khắc phục được thiệt hại.
- Kết quả bảo đảm giáo dục tối thiểu, thực hiện mục tiêu phổ cập trung học cơ sở tại nhiều huyện miền núi, dân tộc thiểu số, còn thấp; tỷ lệ giáo dục nghề nghiệp thấp, năm 2010, vẫn còn trên 60% lao động chưa được đào tạo, trên 90% lao động là đồng bào dân tộc thiểu số chưa được đào tạo.
- Mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân chưa đạt: mới có 46% số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; năm 2011, còn 33% số dân chưa tham gia bảo hiểm y tế.
- Vẫn còn hơn 900 nghìn hộ nghèo đang ở nhà tạm; tại vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, nhà ở chưa bảo đảm đủ chống đỡ các nguy cơ; 80% công nhân đến làm việc tại các khu công nghiệp ở những căn nhà thuê chưa được bảo đảm điều kiện tối thiểu về vệ sinh, điện, nước sạch và các dịch vụ khác.
- Vẫn còn tới 80% số người dân vùng cao, vùng núi thiếu nước hoặc sử dụng nước không bảo đảm vệ sinh.
- Thông tin truyền thông cho người nghèo, vùng nghèo còn nhiều hạn chế, vẫn còn 1.800 xã, chiếm 16,4% số xã phường cả nước, chưa có đài truyền thanh xã.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:  nhận thức về vai trò của an sinh xã hội của cơ quan quản lý các cấp và một bộ phận cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ; năng lực xây dựng chính sách an sinh xã hội còn hạn chế, việc tổ chức thực hiện ở các cấp, nhất là cấp cơ sở còn nhiều bất cập, sự phối hợp, lồng ghép các nguồn lực thực hiện các chính sách thấp; mức độ xã hội hóa chưa đủ, chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng xã hội vào việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; việc khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tự an sinh còn hạn chế; việc tổng kết, đánh giá để điều chỉnh các chương trình an sinh xã hội còn chậm trễ.
Quan điểm và cách tiếp cận an sinh xã hội giai đoạn 2012 - 2020
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung rất nhiều chính sách để hỗ trợ người dân bảo đảm mức thu nhập tối thiểu thông qua các chính sách, chương trình xóa đói, giảm nghèo; các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là 16 chương trình quốc gia, trong đó có 6 chương trình tập trung hỗ trợ người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông...
An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về việc làm, thu nhập; trợ giúp xã hội cho các nhóm dân cư có hoàn cảnh khó khăn; bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong việc phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục các rủi ro do mất việc làm, ốm đau, tàn tật, tuổi già, thiên tai, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường... dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Phạm vi của an sinh xã hội gồm:
Nhóm 1: Bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo, gồm các chính sách tạo việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội và các chương trình bảo hiểm khác cho người lao động, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm, người lao động trong các hộ nghèo, người lao động bị thiếu việc làm, người lao động nông thôn, lao động phi chính thức và những người lao động khác.  
Nhóm 2: Trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, cho các nhóm có hoàn cảnh khó khăn bao gồm: trẻ em mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, người khuyết tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc gia đình nghèo, người đơn thân đang nuôi con dưới 16 tuổi, người gặp rủi ro, thiên tai.
Nhóm 3: Bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông. Tập trung ưu tiên người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, người dân nông thôn và các đối tượng khác.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 trở thành nước có thu nhập trung bình và hệ thống an sinh xã hội hướng tới bao phủ toàn dân. Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể và những hạn chế nhất định về nguồn lực, an sinh xã hội cần phát triển theo hướng:  1 - Phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; 2 - Tập trung hỗ trợ người nghèo, người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh đặc thù; 3 - Tiếp tục mở rộng xã hội hóa việc huy động nguồn lực thực hiện an sinh xã hội;  4 - Tranh thủ sự hợp tác quốc tế.
Mục tiêu cơ bản và những nhiệm vụ chủ yếu về an sinh xã hội
Mục tiêu tổng quát về an sinh xã hội ở Việt Nam là cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện thông qua việc  Nhà nước tạo cơ chế để mọi người dân có quyền được tham gia việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục. Nhà nước hỗ trợ cho các nhóm yếu thế, các đối tượng đặc thù, trong đó, hỗ trợ toàn bộ cho người có hoàn cảnh khó khăn tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, tiếp cận đến giáo dục, nước sạch, thông tin truyền thông và các trợ giúp xã hội khác; hỗ trợ một phần cho người thất nghiệp, người cận nghèo, người dân có mức thu nhập dưới trung bình,... để nhóm đối tượng này có điều kiện tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho từng lĩnh vực như sau:
Về hỗ trợ tạo việc làm tăng thu nhập, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ học nghề, chính sách hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn.
Về giảm nghèo, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 80/2011/NQ-CP ngày 19-5-2011 của Chính phủ về “Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2020” và các chương trình, chính sách giảm nghèo, tập trung ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn.
Về phát triển bảo hiểm xã hội, tiếp tục tăng nhanh đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo đảm tính bền vững của Quỹ bảo hiểm thông qua việc hoàn thiện tổ chức quản lý và chi trả bảo hiểm xã hội; nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ cho người lao động khu vực phi chính thức có thu nhập dưới mức trung bình tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung để người lao động có thể tham gia bảo hiểm hưu trí ở mức cao hơn; sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội để mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến các doanh nghiệp có quy mô dưới 10 lao động, hoàn thiện các chế độ và điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp, nâng cao hiệu quả hỗ trợ học nghề, giới thiệu việc làm cho lao động thất nghiệp.
Về trợ giúp thường xuyên, xây dựng mức sống tối thiểu làm căn cứ để xác định đối tượng và mức hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên. Sửa đổi, bổ sung các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên theo hướng mở rộng đối tượng và nâng dần mức trợ cấp, tăng cường hỗ trợ tốt hơn cho trẻ em thuộc các hộ nghèo. Mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc các nhóm đối tượng yếu thế dựa vào cộng đồng.
Về trợ giúp xã hội đột xuất, mở rộng diện được hưởng đến các đối tượng bị tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Chính thức hóa việc hình thành quỹ dự phòng trợ giúp đột xuất tại các địa phương.
Về bảo đảm giáo dục tối thiểu, mở rộng và tăng cường các chế độ hỗ trợ đối với các nhóm dân cư, đặc biệt là trẻ em, thanh, thiếu niên thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn được tham gia giáo dục, đào tạo và dạy nghề.
Về bảo đảm y tế tối thiểu, đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, mở rộng chính sách hỗ trợ phí mua bảo hiểm y tế cho người dân có thu nhập từ dưới trung bình hiện chưa bắt buộc tham gia; cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Về nhà ở, tiếp tục thực hiện chương trình xóa nhà tạm cho 500 nghìn hộ nghèo đến năm 2013 và 900 nghìn hộ nghèo đến năm 2020; đổi mới cơ chế hỗ trợ nhà ở cho người thu nhập thấp.
Về nước sạch, tập trung cải thiện tình hình cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân cư  bị xâm thực do nước biển dâng.
Về thông tin, truyền thông, củng cố và phát triển mạng lưới thông tin cơ sở bảo đảm đưa thông tin nhanh chóng, phù hợp với các tầng lớp nhân dân, nhất là với đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo.
Các nhóm giải pháp chủ yếu
1 - Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong việc thực hiện an sinh xã hội; cụ thể hóa các mục tiêu an sinh xã hội được đề ra trong các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ hằng năm của các cấp ủy đảng; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chương trình, chính sách an sinh xã hội.
2 - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân; phổ biến, giới thiệu các chính sách, chương trình an sinh xã hội đang triển khai; tăng cường công tác thông tin, truyền thông về an sinh xã hội, chú trọng đến người dân, nhất là các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động xã hội, như “Ngày vì người nghèo”, “Tương thân tương ái”, “Xây dựng nhà tình nghĩa”...
3 - Tăng cường quản lý nhà nước về an sinh xã hội, rà soát, đánh giá toàn diện các chính sách an sinh xã hội hiện hành. Tiếp tục thực hiện các chính sách có hiệu quả, điều chỉnh những chính sách đang còn bất cập và bổ sung một số chính sách mới; tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ chuyên môn, nghiệp vụ và cán sự xã hội; xây dựng chính sách khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng an sinh xã hội; xây dựng bộ chỉ số an sinh xã hội làm cơ sở theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện an sinh xã hội trong từng thời kỳ và tham chiếu với quốc tế.
4 - Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội, tranh thủ nguồn lực quốc tế, hợp tác chuyên gia, phát triển các dự án kỹ thuật để thí điểm các chính sách, chương trình mới và nâng cao năng lực nghiên cứu, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá việc thực hiện đề án; xây dựng Báo cáo quốc gia về an sinh xã hội.
- Về huy động nguồn lực thực hiện, giai đoạn 2012 - 2020, Nhà nước tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, các nhóm yếu thế, đồng thời thực hiện xã hội hóa rộng hơn thông qua việc tăng tỷ trọng đóng góp của cá nhân và tổ chức trong tổng chi về an sinh xã hội.
Trong giai đoạn 2012 - 2020, bình quân mỗi năm phải bảo đảm tổng chi cho an sinh xã hội đạt khoảng 13,5% GDP. Trong đó, phần ngân sách nhà nước chiếm khoảng 30% tổng chi an sinh xã hội và khoảng 11,5% tổng chi ngân sách nhà nước./.
Nguyễn Trọng ĐàmThứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộ

Thu nhập của người Việt Nam so với khu vực

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.


Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.

Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.
Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.
Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.

Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.
Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.
Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

GDP bình quân đầu người của Việt Nam có thể đuổi kịp các nước phát triển

Tính đến cuối năm 2004, GDP bình quân người của Việt Nam khoảng 500 USD1,của Hoa Kỳ là 38.000 USD, Nhật Bản là33.000 USD. Điều này có nghĩa là GDP bình quân người của Việt Nam chỉ bằng 1/76 lần của Hoa Kỳ và 1/66 lần Nhật Bản. Giả sử trong vòng 50 tới, GDP bình quân người của Việt Nam tăng trưởng là 6% năm, của Hoa Kỳ và Nhật Bản là 1,5%, thì vào năm 2050, GDP bình quân người của Việt Nam sẽ khoảng 10.000 USD, trong khi của Hoa Kỳ và Nhật Bản lần lượt là 80.000 USD và 70.000 USD. Nếu tốc độ tăng trưởng trong vòng 100 năm tới, của Việt Nam là 4%, Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn giữ mức tăng nêu trên thì vào năm 2100, các con số nêu trên lần lượt là 25.000 USD, 170.000 USD, 150.000 USD, gấp gần 7 và 6 lần Việt Nam. Một khoảng cách khá xa về tương đối, nhưng vô cùng lớn về tuyệt đối. Theo cách tính này, để có được GDP bình quân người bằng Hoa Kỳ trong vòng 100 năm tới (trong điều kiện Hoa Kỳ duy trì được mức tăng trưởng 1,5% năm) thì mức tăng trưởng GDP bình quân người của Việt Nam phải là 6%. Điều này gần như không tưởng vì một quốc gia rất khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao như vậy trong suốt một thế kỷ. Nói như vậy thì dù có cố gắng đến đâu, Việt Nam cũng không bao giờ có thể có mức GDP bình quân người bằng Hoa Kỳ hay Nhật Bản? Để có thể trả lời câu hỏi này, chúng ta cùng xem xét điều gì đã xảy ra đối với Nhật Bản và điều gì sắp xảy ra đối với Trung Quốc?
Trường hợp Nhật Bản
Vào năm 1960, GDP bình quân người của Nhật Bản chỉ là 480 USD (tương đương Việt Nam bây giờ), trong khi của Hoa Kỳ là 2.879 USD, gấp 6 lần Nhật Bản. Nhưng chỉ sau hơn 4 thập kỷ, GDP bình quân người của Nhật Bản đã là 33.000 USD, bằng 87% GDP bình quân người của Hoa Kỳ, có nghĩa là Nhật Bản hầu như đã đuổi kịp Hoa Kỳ. Nếu sử dụng các con số này để tính toán thì tốc độc tăng GDP bình quân danh nghĩa (kể cả lạm phát) trong vòng 44 năm qua của hai quốc gia này lần lượt là 10,5% và 6,3% năm. Thực tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân người của Nhật Bản trong thời gian kể trên chỉ là 4,1% và 2,1%. Nếu cộng với mức tăng chỉ số khử lạm phát (GDP deflator) bình quân trong thời gian qua của Nhật Bản và Hoa Kỳ lần lượt là 3,5% và 4% thì GDP bình quân người tính theo giá hiện tại của Nhật Bản và Hoa Kỳ USD lần lượt là 11.000 USD và 38.000 USD. Như vậy điều gì đã xảy ra, phải chăng là do thống kế sai số liệu. Việc thống kê sai là điều hoàn toàn không xảy ra. Có chăng chỉ là một sai số chấp nhận được và có ý nghĩa về mặt thống kê. Yếu tố làm cho GDP bình quân người của Nhật Bản tính bằng USD tăng lên gần 3 lần là do tỷ giá giữa đồng Yên Nhật và đồng Đô la Mỹ. Ở thời điểm năm 1960, 1 Đô la Mỹ đổi được 360 Yên Nhật, nhưng đến cuối năm 2004, một Đô la Mỹ chỉ đổi được khoảng 125 Yên Nhật. Điều này có nghĩa là giá trị đồng tiền của Nhật Bản so với đồng Đô la Mỹ đã tăng lên gần 3 lần và nếu nhân với 11.000 USD thì ta được con số khớp đúng với số liệu thống kê. Trường hợp Trung Quốc. Vào năm 1960, GDP bình quân người của Trung Quốc là 97 USD. Sau 44 năm, nếu căn cứ vào tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,64% và chỉ số khử lạm phát bình quân 3,1% thì GDP của Trung Quốc tính theo Đô la Mỹ phải là 3.871 USD. Nhưng số liệu thực tế chỉ vào khoảng 1.200 USD. Như vậy, ngược với đồng Yên Nhật, đồng Nhân dân tệ so với đồng Đô la Mỹ bị mất giá hơn 3 lần. Số liệu thống kê cũng cho chúng ta con số này. Năm 1960, 1 Đô la Mỹ chỉ đổi được 2,46 Nhân dân tệ, nhưng đến cuối năm 2004, 1 Đô la Mỹ đổi được tới 8,28 Nhân dân tệ.  Đó là qua khứ, hiện nay, đồng Nhân dân tệ đang lấy lại giá trị của nó so với những đồng tiền mạnh khác, nhất là đồng Đô la Mỹ. Giả sử trong vòng 20 năm tới, Trung Quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng Đồng Nhân dân tệ đang có giá thấp hơn thực tế là điều đang xảy ra. Các nước phát triển đang gây áp lực để Trung Quốc nâng giá trị đồng tiền của họ là 7% (trong khi nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng bình quân 2% năm) và đồng Nhân dân tệ tăng giá gấp đôi, nghĩa là vào năm 2025, một Đô la Mỹ chỉ đổi được 4 Nhân dân tệ, thì lúc đó, GDP và GDP bình quân người của Trung Quốc sẽ là 11.000 tỷ USD và 8.000 USD, trong khi của Hoa Kỳ là 16.000 tỷ USD và 55.000 USD. Khoảng cách GDP bình quân người còn khá xa, nhưng tổng sản phẩm quốc gia đã được rút ngắn rất nhiều.
Nếu trong 50 năm tới, Trung quốc và Hoa Kỳ cùng duy trì được tố độ tăng trưởng bình quân như hơn 4 thập kỷ qua và đồng Nhân dân tệ trở về với giá trị của nó vào năm 1960 thì vào năm 2050, GDP và GDP bình quân người của Trung quốc lần lượt là 57.000 tỷ USD và 47.000 USD, trong khi hai con số này của Hoa Kỳ lần lượt sẽ là 30.000 tỷ USD và 97.000 USD. Điều này có nghĩa là GDP của Trung Quốc gấp hai lần của Hoa Kỳ, trong khi GDP bình quân người của Hoa Kỳ gấp hai lần của Trung Quốc. Khi đó Trung Quốc sẽ là nền kinh tế hàng đầu thế giới về quy mô. Từ hai nền kinh tế Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, nếu tính GDP bình quân người theo đồng Đô la Mỹ, thì nó không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng hàng năm mà còn phụ thuộc vào tỷ giá đồng tiền nước đó so với đồng Đô la Mỹ. Nói cách khác, nó phụ thuộc vào tương quan sức mạnh kinh tế của nước đó so với Hoa Kỳ.
Bây giờ chúng ta có thể trở lại trường hợp Việt Nam. Trường hợp Việt Nam Đối với Việt Nam, vào năm 1985, GDP bình quân người tính theo đồng Đô la Mỹ là 240 USD. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 20 năm qua xấp xỉ 5%. Sau 20 năm,GDP bình quân người của Việt Nam chỉ  vào khoảng 500 USD (tăng 2,1 lần). Trong khi GDP bình quân người của Việt Nam tính bằng VNĐ năm 1985 chỉ xấp xỉ 2.000 VNĐ, nhưng đến cuối năm 2004, con số này xấp xỉ 8.000.000 VNĐ, tăng 800 lần. Nhưng nếu tính theo giá cố định năm 1994 thì GDP bình quân người năm 1985 xấp xỉ 1.800.000 VNĐ, năm 2004 tương đương 4.400.000 VNĐ, tăng 2,45 lần. Nguyên nhân có sự khác biệt lớn như vậy là do chỉ số khử lạm phát của Việt Nam bình quân trong thời gian qua năm qua là rất cao, lên đến19,1%, sau 20 năm, chỉ số khử lạm phát ở Việt Nam tăng 1527 lần – một con số khổng lồ. Chính điều này đã làm cho tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng Đô la Mỹ thay đổi rất lớn. Năm 1985, 8,3 đồng Việt Nam đổi được 1 Đô la Mỹ. Nhưng vào năm 2004, 15.750 đồng Việt Nam mới đổi được 1 Đô la Mỹ. Đồng Việt Nam mất giá so với đồng Đô la Mỹ 1.898 lần. Nếu bỏ qua cú sốc trong những năm 1985, chỉ tính từ năm 1990 đến nay, thì tốc độ tăng chỉ số khử lạm phát khoảng 12% (tăng 5,5 lần), đồng Việt Nam chỉ giảm giá gần 2,5 lần so với đồng USD. Những con số nêu trên chỉ là vấn đề quá khứ ở Việt Nam. Chúng ta quay trở lại chủ đề chính của bài viết là xem xét liệu Việt Nam có thể đuổi kịp các nước giàu? Qua trường hợp của Nhật Bản và Trung Quốc, cho chúng ta có một cái nhìn lạc quan rằng, trong vòng 50-100 năm nữa, nếu có chính sách tốt thì Việt Nam hoàn toàn có thể đuổi kịp các nước giàu với tốc độ tăng trưởng vào khoảng 4%-5% năm. Khi đó sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam gia tăng, giả sử giá trị của đồng Việt Nam tăng 5 lần so với đồng Đô la Mỹ thì sau 100 năm nữa, GDP bình quân người của Việt Nam vào khoảng 125.000 USD so với gần 170.000 USD của Hoa Kỳ. Như vậy, khoảng cách giữa nước phát triển và nước đang phát triển là rất lớn, nhưng nếu có chính sách hợp lý thì trong vòng 50-100 năm thì nước đang phát triển có thể thu hẹp khoảng cách cách với các nước phát triển. Ngược lại, nếu không có chính sách hợp lý (làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế nhỏ hơn các nước phát triển) thì khoảng cách này sẽ là một sự gia tăng theo cấp số nhân, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn. Cùng quan điểm này, giáo sư Ari Kokko của đại học Stockhom Thuỵ Điển cho rằng, để trở thành một nước giàu, một quốc gia không nhất thiết phải có tốc độ tăng trưởng cao mà phải đạt được sự phát triển bền vững trong dài hạn. Như trường hợp của Thuỵ Điển, trong thời kỳ 1870- 1970, kinh tế nước này tăng trưởng bình quân chỉ ở mức chưa đến 2%. Nhưng sau 100 năm, Thuỵ Điển đã trở thành một trong những nước giàu, có mức GDP bình quân người cao nhất thế giới. So sánh con đường của Thuỵ Điển và con đường của một số nước Đông Á, cho thấy có vẻ như Thuỵ Điển đã có một bước đi hợp lý hơn vì họ không phải dừng lại để sửa sai. Để kết thúc bài viết này, quan điểm của người viết cho rằng, Việt nam hoàn toàn có thể đuổi kịp các nước giàu với điều kiện phải có sự phát triển bền vững trong dài mà không phải là một sự tăng trưởng nhanh, nóng trong ngắn hạn với những trục trặc có thể xảy ra trong dài hạn.

- Theo www.hce.edu.vn

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Tác động hai mặt của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá đối với xây dựng đời sống văn hoá

1. Tác động của kinh tế thị trường
Trước hết, cần phải chú ý, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng không phải là thị trường bất kỳ, mà là thị trường định hướng XHCN.
Thị trường là sản phẩm của sự phát triển kinh tế-xã hội, trong lịch sử phát triển sản xuất vật chất, thị trường (theo đúng nghĩa của từ đó) thực sự phát triển cùng với sự phát triển của CNTB.
Từ sản xuất tự cung, tự cấp, vật trao đổi vật, sang sản xuất hàng hóa là một bước tiến của văn minh nhân loại - bước tiến của thị trường.
Kinh tế thị trường TBCN và thị trường XHCN:
Thị trường TBCN và thị trường XHCN có những yếu tố chung và không chung. Yếu tố chung là chúng đều sản xuất hàng hóa và cùng tuân theo quy luật giá trị, cùng lấy lợi ích và cạnh tranh làm động lực của sự phát triển... Song, thị trường TBCN và thị trường XHCN lại có những yếu tố không chung, quy định sự khác nhau về chất giữa hai loại thị trường. Thị trường TBCN chịu tác động tất yếu của chính trị tư sản và gắn với nó là kiểu quản lý kinh doanh TBCN. Thị trường XHCN chịu tác động tất yếu của nền chính trị cộng sản và gắn với nó là kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm phát triển sản xuất hướng tới công bằng và tiến bộ xã hội, từng bước phát triển con người toàn diện. Từ đó, thị trường XHCN căn bản khác với thị trường tư bản về cả điểm xuất phát đến mục tiêu của nền sản xuất. Rõ ràng, ở đây thị trường là nơi diễn ra cuộc hội ngộ cũng là cuộc đối đầu gay gắt không tiếng súng giữa hai loại thị trường, đó là tính hai mặt của cơ chế thị trường.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong xã hội tư bản, kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất khoa học - công nghệ phát triển, nhưng đi liền đó là bất công xã hội cũng phát triển. Sự giàu có tăng lên nhưng bất công không thu hẹp, giảm đi mà trái lại bất công càng tăng lên, mở rộng. Giải quyết mâu thuẫn này, không có cách nào khác là khi tăng trưởng kinh tế, phải đi liền với giải quyết vấn đề công bằng xã hội. Nếu không, chính bất công xã hội sẽ là lực cản, là sự phá hoại tăng trưởng kinh tế. Công bằng xã hội trở thành đòi hỏi tất yếu của chính bản thân sự phát triển kinh tế. Công bằng để phát triển là phát triển để thực hiện công bằng không thể giải quyết được trong kinh tế thị trường tư bản.
Thực tiễn loài người chứng tỏ rằng, sự phát triển kiểu thị trường TBCN không thể khắc phục được những mâu thuẫn giữa kinh tế và văn hoá, đáp lại những đòi hỏi của lý trí loài người. Kinh tế thị trường TBCN giải phóng được năng lực làm giàu nhưng lại tạo ra hố sâu của sự phân hóa giàu nghèo. Ở đây “999 kẻ trượt vỏ đậu mới có một kẻ lên ngai vàng", cái thông minh của người này đã trở thành ngu đần của người khác, sung sướng của người này là bất hạnh của người kia. Quá trình phát triển của kinh tế thị trường tư bản là quá trình "cá lớn nuốt cá bé", người với người có lúc đã trở thành lang sói.
Kinh tế thị trường ở Việt Nam là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế thị trường định hướng XHCN một mặt giải phóng năng lực làm giàu, mặt khác lo xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa. Mỗi bước phát triển kinh tế, lại chăm lo phát triển văn hóa tinh thần, phát triển quan hệ người - người, giữ đạo lý làm người, bảo vệ môi trường sinh thái. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN sẽ tạo ra mỗi bước phát triển kinh tế, con người sẽ sống xứng đáng với con người hơn.
Tác động tích cực:
Kinh tế thị trường đã tác động tích cực đến khuynh hướng phát triển đa dạng, phong phú trong hoạt động của văn hóa. Các chính sách kinh tế mới sẽ tạo ra cơ sở kinh tế-xã hội mới cho các hoạt động văn hóa. Nhờ những chính sách mới, phù hợp mà những năng lực văn hóa vốn tiềm ẩn sẽ được bộc lộ phát triển với nhiều hình thức phong phú khác nhau. Nhiều thành phần xã hội sẽ cùng tham gia vào quá trình phát triển văn hóa.
Kinh tế thị trường chấp nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau, các thành phần kinh tế tác động và bình đẳng với nhau trong thực hiện các quyền kinh tế của mình. Trong văn hóa có sự chấp nhận, khơi nguồn cho sự phát triển đa dạng, đáp ứng nhiều loại nhu cầu văn hóa chính đáng, hợp lý của xã hội. Ở đây đã có sự phát triển cùng chiều giữa kinh tế thị trường và văn hóa.
Kinh tế thị trường thúc đẩy hoạt động văn hóa theo hướng xã hội hóa. Ý thức dân chủ, vai trò cá nhân, sự tự ý thức về bản thân sẽ có điều kiện và cơ hội để phát triển. Quá trình sáng tạo, phổ biến các giá trị văn hóa sẽ thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân.
Kinh tế thị trường đã đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và hiệu quả như là một chuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, trong nhân cách mỗi người. Nó buộc người ta phải khắc phục lối tư duy cảm tính, phương thức tư duy kiểu “ngoại suy", chủ quan và phải rèn luyện, nâng cao phương thức tư duy lý tính, lành mạnh. Mục đích, động cơ phải trên cơ sở hiện thực và phải đi đôi với những biện pháp, những phương tiện hữu hiệu để hiện thực hóa trong thực tế.
Kinh tế thị trường là điều kiện kích thích tăng năng suất lao động không ngừng. Sự tìm tòi, sáng tạo của cá nhân luôn được khuyến khích. Chính điều này đòi hỏi mỗi người phải học tập, rèn luyện tay nghề, rèn luyện bản thân. Kinh tế thị trường cũng rất nghiêm khắc đào thải những trì trệ, sự lạc hậu, lỗi thời của con người và các sản phẩm yếu kém về nội dung cũng như hình thức.
Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường là từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập trong con người, rèn luyện con người ý thức lao động, bản lĩnh, năng động, thích nghi và sáng tạo. Đây là những phẩm chất đạo đức về ý chí, lòng dũng cảm, nghĩa vụ, tính nguyên tắc và tự trọng ở mỗi con người cũng như cả cộng đồng.
Tác động tiêu cực:
Trong kinh tế thị trường phải đề phòng khuynh hướng, lối sống chạy theo đồng tiền. Kinh tế thị trường có khuynh hướng mở rộng các nguyên tác trao đổi thị trường ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống cá nhân, đời sống cộng đồng, có khuynh hướng làm cho người ta coi giá trị thị trường là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác. Họ định giá trị của con người căn cứ vào của cải của người đó, từ đó tìm các quan hệ trong sự đem lại lợi ích gì cho mình, cho cá nhân mình. Từ đây mà các quan hệ tình cảm cao đẹp, ấm áp tình người có nguy cơ bị băng giá trong sự tính toán vị kỷ.
Kinh tế thị trường cũng cần đề phòng khuynh hướng chạy theo lợi nhuận đơn thuần, dẫn đến nguy cơ "thương mại hóa" (cái gì có tiền mới làm, cái gì không có tiền, dù cần cũng không làm). Hơn thế nữa, khi chạy theo đồng tiền có thể sẽ bất chấp đạo lý, những hủ tục mê tín có thể tăng nhanh, các sản phẩm phản văn hóa, làm băng hoại con người có thể tràn lan, các bậc giá trị có thể bị nhận thức sai lệch...
Kinh tế thị trường cũng đã kéo theo lối sống "tiền trao cháo múc", lạnh lùng, tàn nhẫn làm băng hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, tấn công vào từng gia đình, từng người. Đã có không ít hiện tượng: từ chỗ coi trọng các giá trị chính trị, xã hội sang tuyệt đối hóa các giá trị vật chất kinh tế. Từ chỗ lấy con người tập thể, con người xã hội làm mẫu mực (hy sinh vì tập thể, vì cộng đồng) là đạo đức cao nhất, sang tuyệt đối hóa con người cá nhân, thậm chí là cá nhân ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Từ chỗ lấy lý tưởng, đạo đức làm mẫu mực chuyển sang coi thường đạo đức, phẩm giá; tuyệt đối giá trị thực dụng, tôn sùng tiện nghi vật chất, tôn sùng đồng tiền, coi tiền là trên hết, lấy đồng tiền làm thước đo giá trị của con người.
Tiền xâm nhập vào nhiều mối quan hệ đạo đức xã hội, thậm chí thành nguyên tắc xử thế và tiêu chuẩn hành vi của không ít người. Chính vì vậy mà những hiện tượng tham ô, hối lộ, móc ngoặc, buôn lậu, lừa đảo, làm hàng giả, mua quan bán chức, chạy chức chạy quyền bằng tiền... chúng ta đấu tranh, ngăn ngừa nhiều năm nay nhưng hiện vẫn đang diễn ra phức tạp và là nỗi lo lắng của xã hội.
Những quan niệm và hành vi của đạo đức truyền thống như tinh thần giúp đỡ nhau, kính già, yêu trẻ, tôn sư trọng đạo, vợ chồng thủy chung... sẽ bị biến động và suy giảm do toan tính của đồng tiền.
2. Tác động của toàn cầu hóa
Trước hết cần phải khẳng định trong cách nói toàn cầu hóa thực chất là toàn cầu hóa kinh tế chứ không phải là toàn cầu hóa tất cả. Tất nhiên, toàn cầu hóa kinh tế tác động rất mạnh đến các lĩnh vực khác. Mỗi dân tộc trong tiến trình hội nhập toàn cầu hóa, vẫn giữ bản sắc văn hóa, những đặc trưng về đạo đức và lối sống của mình.
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế của lịch sử, là tất yếu khách quan bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của cách mạng khoa học công nghệ, của kinh tế thị trường... Điều này cho thấy, không một quốc gia nào có thể phát triển nếu không biết tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Mặt khác, hiện nay các nước tư bản giàu có nhất (tập trung ở nhóm G.7) với các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia đang chi phối, thống trị nền kinh tế thế giới. 57.000 công ty mẹ với 500 công ty hàng đầu có 500.000 chi nhánh đang kiểm soát 80% công nghệ mới, 40% nhập khẩu, 60% xuất khẩu, 90% đầu tư trực tiếp nước ngoài. Họ chi phối thế giới về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, thương mại quốc tế, các tổ chức và thể chế kinh tế. Họ còn nắm trong tay những phương tiện sản xuất tinh thần rất mạnh và nguồn lực chất xám quan trọng. Do vậy, có thể nhận định rằng: toàn cầu hóa kinh tế trong điều kiện hiện nay về cơ bản mang tính chất TBCN, là sự bành trướng của quan hệ sản xuất TBCN ra toàn thể giới. Không hội nhập kinh tế, đóng cửa là tự sát. Nhưng nếu không biết cách chủ động hội nhập thì cũng sẽ chết trong sự "tha hóa".
Toàn cầu hóa kinh tế chứ không phải là toàn cầu hóa về tư tưởng, đạo đức lối sống nhưng nó đã ảnh hưởng, tác động rất mạnh mẽ đến tư tưởng đạo đức lối sống cả tích cực và tiêu cực.
Tác động tích cực:
+ Toàn cầu hóa thúc đẩy rất nhanh, rất mạnh sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất vốn mang bản chất quốc tế ngày càng có tính phổ biến, đưa lại sự tăng trưởng cao, tạo ra các điều kiện vật chất cho sự phát triển của con người, của xã hội.
+ Toàn cầu hóa kinh tế đặt ra sự phát triển bền vững, toàn diện, yêu cầu phải đặc biệt chú ý tới môi trường sinh thái, môi trường xã hội đòi hỏi phải xem con người là trung tâm của sự phát triển, là nguồn lực của mọi nguồn lực.
+ Toàn cầu hóa chuyển giao công nghệ và truyền bá tư tưởng, lối sống của các quốc gia với nhau trên quy mô ngày càng lớn. Những thành quả mới mẻ, những khám phá, sáng tạo về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh, lối sống, cách sống... tác động đến các dân tộc, đến từng gia đình, từng người.
+ Toàn cầu hóa làm cho không gian hẹp lại: "làng toàn cầu” với thông tin nhanh nhạy; "chợ văn hóa toàn cầu” với phim ảnh, báo chí, đồ chơi, trò chơi... của nhân loại vào từng nhà; "đại siêu thị toàn cầu” với sinh hoạt, đồ ăn, thức uống, ăn mặc, giải trí... đến từng người; "trụ sở lao động toàn cấu” với thị trường sức lao động rộng lớn, phổ biến; "mạng lưới tài chính toàn cầu” thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội, tác động đến tất cả mọi mặt của đời sống xã hội.
+ Toàn cầu hóa tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn, làm cho thời gian tăng giá trị, vừa tạo ra thời cơ và cũng là thách thức lớn cho tiến trình đổi mới tư duy, đổi mới cách thức lãnh đạo, quản lý sâu rộng không chỉ ở tầm vĩ mô quốc gia mà cả tầm vi mô ở từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình.
+ Toàn cầu hóa, nhất là kinh tế thị trường đã đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và hiệu quả như là một chuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, trong nhân cách mỗi người. Nó buộc người ta phải khắc phục lối tư duy cảm tính, phương thức tư duy kiểu "ngoại suy", chủ quan và phải rèn luyện, nâng cao phương thức tư duy lý tính, lành mạnh. Mục đích, động cơ phải trên cơ sở hiện thực và phải đi đôi với những biện pháp, những phương tiện hữu hiệu để hiện thực hóa trong thực tế.
Tác động tiêu cực:
Toàn cầu hóa không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức lớn, không chỉ có tác động tích cực mà còn có tác động tiêu cực. Ở những nước chậm và đang phát triển thì sự thách thức và tác động tiêu cực lại càng lớn hơn, trong đó có cả tư tưởng, đạo đức, lối sống.
+ Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao hiệu quả nhưng điểm xuất phát không giống nhau, điều kiện không giống nhau, trình độ không giống nhau dễ làm tổn thương suy nghĩ, dễ ngộ nhận, dễ "duy kinh tế", "thuần túy kinh tế” mà phai lý tưởng, nhạt chính trị, chao đảo, ngả nghiêng trong lý tưởng mục tiêu phải phấn đấu. Chẳng vậy mà có những người đã lập luận: chủ nghĩa nào cũng được, chế độ nào cũng được miễn là kinh tế đời sống phát triển. Sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, sự suy giảm niềm tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, với con đường đi lên CNXH ở một bộ phận dân cư có nhiều lý do nhưng không thể không chú ý tới sự thâm nhập của toàn cầu hóa kinh tế vào Việt Nam.
+ Toàn cầu hóa kinh tế với cuộc chơi không cân sức không chỉ với các quốc gia, dân tộc mà còn với từng người. Điều này có khả năng vừa tập trung quyền lực vào một số nước, vừa bỏ rơi phần lớn các nước kém phát triền; vừa tập trung vào một số người, vừa bỏ rơi đa số người nghèo. Sự tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận thuần túy dễ để tuột tay mục tiêu bình đẳng, công bằng, xóa đói nghèo và an toàn cho con người.
Với Việt Nam, quá trình toàn cầu vừa phải lo tránh tụt hậu xa về kinh tế vừa phải lo chệch hướng về chính trị… Sự phân hóa giàu nghèo là tất yếu phải chấp nhận, nhưng sự phân hóa đến mức không lý giải được thì không chỉ là nguy cơ tiềm ẩn cho mất ổn định kinh tế-chính trị-xã hội mà còn là nguy cơ cho đạo lý làm người.
Ở nơi nào còn thất nghiệp, còn nghèo khổ, và đời sống không ổn định... thì tiêu cực và tệ nạn xã hội vẫn chờ người ta ở phía trước.
+ Toàn cầu hóa kinh tế xâm nhập các quốc gia, thì các loại tội phạm cũng mang tính toàn cầu. Buôn bán ma túy bất hợp pháp chiếm khoảng 8% thương mại thế giới, lớn hơn tỷ trọng của quặng và thép hoặc xe ô tô và tương đương mức của hàng dệt (7.5%) hoặc khí đốt và dầu mỏ (8,6%).
Hàng trăm triệu người đã nghiện ma túy (con số chưa đầy đủ khoảng trên 200 triệu người) đã đe dọa môi trường xã hội. Hà Nội khoảng 20.000 người đã mắc nghiện (chưa tính Hà Nội mở rộng), trong khi đó vẫn chưa kiểm soát và ngăn chặn được cơ bản nguồn ma túy quốc tế và trong nước vào thành phố. Tỷ lệ người nghiện ma túy không có việc làm chiếm 63,2%. Tỷ lệ tái nghiện vẫn ở mức cao (sau 3 năm tỷ lệ tái nghiện là trên 90%).
Nạn mại dâm vẫn phát triển phức tạp. Số người bị nhiễm HIV tiếp tục tăng, nhất là lứa tuổi thanh niên. Các loại tệ nạn và tội phạm khác theo kiểu xã hội đen về tống tiền, cướp giật, lừa đảo, bắt cóc, buôn bán phụ nữ và trẻ em... kiểu quốc tế cũng đã xuất hiện trên địa bàn Hà Nội.
Như vậy, vấn đề toàn cầu hóa kinh tế đang thực sự có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, đạo đức lối sống của xã hội ta. Sự tác động đang diễn ra phức tạp, có sự đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác, giữa hai lối sống: sống có lý tưởng lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thực dụng, ích kỷ, mưu mô, dối trá chạy theo đồng tiền. Đạo đức mới, lối sống mới vừa phải đấu tranh với cái phi đạo đức, vừa phải đấu tranh tự đổi mới, tự khẳng định mình trong điều kiện mới. Đây là tình huống có vấn đề mà yêu cầu của công cuộc đổi mới, của sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ở nước ta đang đặt ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập WTO.
Kiên định nguyên tắc định hướng XHCN, không được để mai một và làm phai mờ những ưu việt của CNXH. Đó cũng chính là quá trình định hướng cái thiện to lớn nhất, bao quát nhất. Định hướng XHCN là quá trình tự giác giúp thiện thắng ác, hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường và phát huy đến mức cao nhất mặt tích cực của cơ chế thị trường. Định hướng XHCN giúp cho cán bộ và nhân dân xác định được mục tiêu khoa học, động cơ trong sáng và lựa chọn được phương tiện và hành vi phù hợp. Với ý nghĩa đó, kiên định nguyên tắc định hướng XHCN vừa là khát vọng của con người, vừa là yêu cầu nội tại bên trong của sự phát triển trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế./.
PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ

CÁC MÔ HÌNH THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại. Đây là thành tựu chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trường trên thế giới rất phong phú, đa dạng.
I. Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại. Đây là thành tựu chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trường trên thế giới rất phong phú, đa dạng. Ở các nước tư bản phát triển, mô hình kinh tế thị trường đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, tiến hóa theo thời gian cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, ngày nay là cách mạng khoa học - công nghệ. Các mô hình kinh tế thị trường của các nước này có những sự biến đổi, thích nghi để tồn tại và phát triển. Trong những năm gần đây, dựa theo những nét khác biệt và tương đồng, người ta đã chia các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành ở các nước tư bản phát triển trên thế giới thành 3 nhóm tiêu biểu:
- Mô hình thể chế kinh tế thị trường tự do (tiêu biểu là nền kinh tế thị trường của Mỹ, Anh, Ốx-trây-li-a,...).
- Mô hình thể chế kinh tế thị trường xã hội (tiêu biểu là Đức, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác).
- Thể chế kinh tế của mô hình nhà nước phát triển (tiêu biểu là nền kinh tế Pháp, Nhật Bản).
Ba mô hình thể chế kinh tế thị trường nêu trên có những điểm khác biệt với nhau như sau:
1- Đặc điểm của mô hình thể chế kinh tế thị trường tự do
- Có một cơ chế thị trường tự do thuần khiết hơn so với các nền kinh tế khác. Trong mô hình kinh tế thị trường này, các mối quan hệ kinh tế đều được giải quyết thông qua thị trường là chính, còn sự can thiệp của nhà nước rất hãn hữu. Do đó, mọi sự bất cập và thất bại của nền kinh tế đều do nguyên nhân chủ yếu từ sự trục trặc hay sự phát triển thiếu đồng bộ của thị trường.
- Trong mô hình này, thị trường lao động có tính linh hoạt cao và các luật lệ về thị trường lao động đều thiên về bảo hộ người chủ tư bản hơn là người lao động làm thuê.
2 - Đặc điểm của mô hình thể chế kinh tế thị trường xã hội
- Ra đời trong bối cảnh của nước Đức sau chiến tranh thế giới thứ hai và là kết quả của sự thỏa hiệp giữa 4 trường phái lớn theo đuổi những chủ trương khác nhau về khôi phục nền kinh tế nước Đức thời hậu chiến.
- Mô hình kinh tế thị trường xã hội là một dạng biến thể của mô hình kinh tế thị trường tự do. Nhưng nó có nội dung thực chất là sự gắn kết trên cơ sở thị trường một cách hợp lý giữa các mặt kinh tế - xã hội và chính trị.
- Coi các thị trường chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ và coi luật pháp, nhà nước, đạo đức,... không hề kém quan trọng hơn so với các chính sách kinh tế, tài chính.
- Coi trọng vai trò điều tiết của nhà nước và phúc lợi xã hội.
3 - Thể chế kinh tế của mô hình nhà nước phát triển
- Chức năng chủ yếu của nhà nước trong mô hình này là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế dài hạn. Do đó, nhà nước phải chủ động thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ trên cơ sở những thành tựu của công nghiệp hóa và tái công nghiệp hóa dựa vào tri thức, nhằm thích ứng với sự biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường để luôn tạo ra được lợi thế so sánh mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không thụ động chấp nhận sự phân công lao động quốc tế dựa trên những lợi thế so sánh có sẵn.
- Nhà nước không chỉ quan tâm đến luật chơi của nền kinh tế thị trường mà còn đi sâu hướng dẫn, chỉ đạo, điều tiết cả phương hướng, nội dung của hoạt động kinh tế nhằm thực hiện chức năng phát triển của nhà nước.
- Cơ sở lý thuyết về chức năng phát triển của nhà nước là những phân tích "lợi thế so sánh động" của một nền kinh tế dựa vào tri thức.
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các nước phát triển nền kinh tế theo mô hình này.
Bên cạnh những điểm khác biệt của mỗi mô hình như đã nêu trên, giữa 3 mô hình này cũng có những điểm tương đồng rất cơ bản:
- Cả 3 mô hình thể chế kinh tế thị trường nêu trên đều được xây dựng và vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân, cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây.
- Những thể chế, chính sách trước đây bị coi là phi kinh tế như chính sách giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ thì ngày nay trở thành những chính sách phát triển hàng đầu, do giáo dục - đào tạo và khoa học, công nghệ trong những thập niên gần đây đã trở thành những động lực trọng yếu của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chính nhờ tập trung những khoản đầu tư lớn cho phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học, công nghệ mà Mỹ trở thành nước đang dẫn đầu trong các ngành mới, hiện đại và thu được nhiều khoản lợi nhuận kếch sù từ các ngành công nghiệp bán dẫn, máy tính, In-tơ-nét, công nghệ sinh học,... Đó chính là cơ sở trọng yếu để nền kinh tế Mỹ duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ trong suốt thập niên vừa qua.
Trong vài thập niên gần đây, tuy rằng cả sự phát triển bền vững và sự phát triển con người đều vượt ra ngoài lô-gíc bình thường của chủ nghĩa tư bản. Nhưng những yêu cầu đó đều là xu thế tất yếu của thời đại mà chủ nghĩa tư bản hiện đại không cưỡng lại được, cho nên không chỉ Mỹ mà ở tất cả các nước theo những mô hình nêu trên đang khôn ngoan tìm cách thích nghi.
- Trên thực tế, cả 3 mô hình này đều sử dụng rộng rãi sự điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước luôn được thay đổi linh hoạt, theo những hình thức và phương pháp phù hợp với diễn biến và yêu cầu khách quan của tình hình thực tế.
Chính phủ ở các nước này đều sử dụng những biện pháp can thiệp có chủ đích nhằm trợ giúp một số ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển dài hạn của nền kinh tế, hoặc kiểm soát, hạn chế sự phát triển của những doanh nghiệp, những ngành gây ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế.
II. Mỗi một mô hình kinh tế thị trường trên đây đều có những nét ưu việt cùng những hạn chế, khiếm khuyết nhất định. Chưa có cơ sở chắc chắn để khẳng định mô hình nào sẽ thắng thế lâu dài và có khả năng trở thành một hình mẫu chung cho tất cả các nước khác nhau trên thế giới. Tuy vậy, hiện nay mô hình kinh tế thị trường kiểu Mỹ đang ưu thế, vì trong những năm gần đây các mô hình kinh tế thị trường của Đức, Nhật Bản, Thụy Điển và Đông Á đều trì trệ, khủng hoảng. Trong khi đó, mô hình kinh tế thị trường kiểu Mỹ dựa trên lý thuyết kinh tế Tân tự do và dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ của Mỹ cùng sự ủng hộ của IMF, WB, WTO,... được khuyếch trương rộng rãi. Từ đó, nhà cầm quyền Mỹ tự cho phép mình đặt ra luật lệ cho "cuộc chơi" và chi phối các tổ chức quốc tế đa phương để điển hình hóa mô hình kinh tế thị trường của Mỹ thành kiểu mẫu đem chuyển giao cho các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi dưới tên gọi "Đồng thuận Oa-sinh-tơn".
Hầu hết các nước đang phát triển đều thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường đã thu được những thành công hay thất bại rất khác nhau: có một số nước thành công, đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định như các nước công nghiệp mới ở Đông Á (NICs) và các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs). Nhưng nhiều nước lại thất bại: kinh tế tăng trưởng chậm, luôn bị khủng hoảng, thậm chí bị suy thoái như các nước ở châu Phi và Mỹ La-tinh.
Từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Liên bang Nga và nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây đã tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Nhưng việc áp dụng máy móc, rập khuôn đã thất bại với hậu quả nghiêm trọng. Trong khi đó, Trung Quốc có điểm xuất phát thấp hơn đã tiến hành chuyển đổi và cải cách mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Cách tiếp cận này, vừa đổi mới, vừa đúc rút kinh nghiệm và khái quát lý luận làm căn cứ cho việc triển khai các bước cải cách thể chế tiếp sau, nhằm đạt mục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc. Quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, tuy có phải trả những khoản học phí không nhỏ. Bài học quý báu cả về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, cả trong thành công cũng như thất bại đang tiếp tục phát triển, bổ sung, hoàn thiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc.
Thực tế trên cho thấy, thực tiễn và lý luận về mô hình kinh tế thị trường hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp, không thể áp dụng máy móc mô hình kinh tế thị trường của nước này cho nước khác được. Nó luôn là bài toán đầy thách thức đối với bất cứ nước nào muốn phát triển nền kinh tế thị trường. Do đó mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cần thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của các nước khác. Không nên rập khuôn, máy móc theo bất cứ một mô hình ngoại lai nào. Phải phát huy hiệu quả nội lực kết hợp thu hút các nguồn ngoại lực, chủ động nghiên cứu tìm tòi để sáng tạo, quyết định và thực hiện mô hình kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình.
Quán triệt tinh thần đó, công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện bắt đầu từ năm 1986 chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là đường lối chiến lược nhất quán trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. Đây là giai đoạn lịch sử, các yếu tố xã hội chủ nghĩa đang phát triển từng bước từ thấp lên cao. Trong trạng thái quá độ này có sự tồn tại đan xen của rất nhiều yếu tố phức tạp. Trạng thái này làm cho chúng ta khó nhận biết được đúng, sai và khó xác định được các thang bậc định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác với bản chất kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là: "Hệ thống luật pháp, thể lệ, quy định,... của Nhà nước và các chủ thể kinh tế tham gia thị trường được xây dựng, vận hành và hoạt động sao cho vừa đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn". Do đó, mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao giờ cũng gắn bó hữu cơ với những bộ phận cấu thành phương thức sản xuất đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xét về mặt kinh tế, định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở nhiều phương diện, nhiều khâu, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ việc vạch ra đường lối chính sách, luật pháp đến quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện.
Kinh tế thị trường chỉ xuất hiện và phát triển khi lực lượng sản xuất đã phát triển tới trình độ cho phép đạt được khối lượng lao động thặng dư và tương ứng với nó là khối lượng sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều. Do đó, ở nước ta hiện nay, muốn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Còn nếu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cốt để khai thác được nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và sức lực của người lao động nhằm thu lợi nhuận tối đa, bất chấp hậu quả về xã hội và môi trường là đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề rất cơ bản có ảnh hưởng lớn tới định hướng xã hội chủ nghĩa là phải phân bố lực lượng sản xuất như gắn kết một cách hợp lý tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu phân bố theo cơ chế thị trường tự phát, người ta chỉ phân bố lực lượng sản xuất tập trung vào ngành, vùng có nhiều lợi nhuận, không quan tâm đến một số ngành, vùng khác, dù đó là ngành, vùng xung yếu. Hậu quả là tạo nên sự cách biệt quá xa về trình độ phát triển và tình trạng chênh lệch quá mức về thu nhập và đời sống giữa các tầng lớp dân cư.
Những vấn đề kinh tế khác như hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế tự chủ, giải quyết mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng v.v... đều có quan hệ trực tiếp đến định hướng xã hội chủ nghĩa.
Biểu hiện tập trung nhất và thước đo cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ở quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất thì vấn đề sở hữu là quan trọng nhất. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay là: sở hữu công cộng đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu, ở những lĩnh vực huyết mạch, những vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân do Nhà nước nắm. Kinh tế nhà nước cần thông qua hợp tác liên doanh, liên kết kinh tế với các thành phần kinh tế khác mà phát huy vai trò chủ đạo để cùng với kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã, hợp thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Cùng với nền tảng đó là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, chú trọng phát triển hình thức sở hữu cổ phần, đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các thành phần kinh tế phi công hữu đều là những bộ phận cấu thành quan trọng, tất yếu của nền kinh tế quốc dân.
Sở hữu là vấn đề quan trọng nhất, nhạy cảm nhất, có ý nghĩa sống còn đối với mọi chế độ chính trị. Do đó, các thế lực thù địch trên thế giới thường nhằm vào vấn đề sở hữu để chống phá. Chúng gây sức ép trong các mối quan hệ để đòi chúng ta phải tư nhân hóa nền kinh tế và tìm mọi cách ủng hộ, khuyến khích sở hữu tư nhân phát triển.
Cùng với việc xác định vị trí của chế độ sở hữu công cộng và cơ chế thực hiện thì cần phân định các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế. Vì đây là một công cụ rất quan trọng trong thực thi lãnh đạo, quản lý nền kinh tế. Có phân định, chúng ta mới thấy được tỷ trọng của mỗi loại hình sở hữu và của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó có giải pháp sát hợp, hữu hiệu trong lãnh đạo, quản lý.
- Nội dung thứ hai của quan hệ sản xuất là tổ chức quản lý. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta về mặt tổ chức quản lý phải bảo đảm được sự gắn kết hợp lý giữa 3 yếu tố cơ bản: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng, phát triển đất nước và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh đúng xu thế khách quan của thời đại và điều kiện cụ thể của đất nước. Sự quản lý, điều hành phù hợp, có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân bằng một hệ thống đồng bộ luật pháp, các chính sách, công cụ, phản ánh đúng ý Đảng, lòng dân và thực lực kinh tế của Nhà nước. Vai trò làm chủ và tham gia quản lý của nhân dân lao động thực sự được phát huy thông qua thực hiện quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích của họ đối với những tư liệu sản xuất thuộc sở hữu cá nhân, đối với vốn cổ phần, đối với những tư liệu sản xuất được Nhà nước phân giao quyền sử dụng và kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế có liên quan. Đây là những yếu tố cấu thành tất yếu về tổ chức quản lý trong mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Một nội dung khác của quan hệ sản xuất liên quan rất mật thiết đến định hướng xã hội chủ nghĩa và rất nhạy cảm đối với chính trị của chúng ta là vấn đề phân phối. Trong mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải đề cao nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và các nguồn lực khác đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Vì định hướng xã hội chủ nghĩa trong phân phối sẽ làm nổi bật tính ưu việt của chế độ ta trong điều kiện sức sản xuất còn thấp kém. Điều này được thể hiện thu nhập giữa những người hưởng lương, chính sách tiền lương không để cách nhau quá xa giữa bậc lương thấp nhất và cao nhất. Trong quá trình xử lý vấn đề tiền lương đã không ngừng nâng mức lương tối thiểu, đã chú trọng các nghề cần khuyến khích; chú ý lao động nặng nhọc, độc hại...
Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phân phối còn là tạo ra các nguồn lực xã hội hóa trợ giúp người có thu nhập thấp, có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo, góp phần làm cho hố ngăn cách mức sống không bị doãng ra, tỷ lệ đói nghèo được giảm xuống một cách nhanh chóng.
Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phân phối không chỉ là cho người nghèo "con cá", như trong thời kỳ bao cấp trước đây, mà quan trọng hơn là phải tạo cho họ cái "cần câu cá", tức là tạo cho họ cơ hội và phương tiện để tham gia các hoạt động kinh tế đem lại thu nhập để bảo đảm cuộc sống, khắc phục những tư tưởng trông chờ, ỷ lại một cách thụ động vào sự cứu trợ của Nhà nước và xã hội.
Hoàng Ngọc Hòa
GS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



10/03/2007 01:54:51

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Sự tiếp nối của công cuộc đổi mới

TCCS - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Một trong những phương hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu đó là “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội XI của Đảng cũng xác định, một trong ba khâu đột phá chiến lược là “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sản phẩm chủ quan của tư duy thuần túy mà là sự tổng kết từ thực tiễn, kế thừa và phát triển các lý thuyết về kinh tế thị trường và là mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Với tư duy đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội VI của Đảng mở ra một bước ngoặt và sự khởi đầu quan trọng của phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Đại hội VI đã khẳng định việc giải phóng sức sản xuất, chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ.
Đại hội xác định đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế, nhằm tạo động lực thúc đẩy các đơn vị sản xuất, kinh doanh nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả với cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Chủ trương của Đại hội đề ra cần kết hợp hài hòa các lợi ích của người lao động, tập thể và toàn xã hội, coi đó là động lực phát triển kinh tế, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng bảo đảm sự thống nhất hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, thực hiện công bằng xã hội và khắc phục xu hướng bình quân hóa trong phân phối. Tuy nhiên, Đại hội VI chưa đề cập đến phát triển kinh tế thị trường, và bản thân tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế. Một điểm cần lưu ý là, mặc dù đã đặt ra sự thay đổi về cơ chế mới nhưng vẫn nặng về tính kế hoạch thống nhất, “tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ” và “sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới...”. Những hạn chế của Đại hội VI đã được khắc phục một phần quan trọng tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, cụ thể:
- Xác định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tính dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người có điều kiện làm ăn theo pháp luật.
- Xác định các thành phần kinh tế vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật và xóa bỏ những định kiến, phân biệt đối xử không đúng và hình thức độc quyền kìm hãm những xu thế ấy.
- Vị trí của các thành phần kinh tế được xác định lại: kinh tế quốc doanh có đủ lực lượng chi phối thị trường nhưng không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề; kinh tế tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội VII của Đảng đã có bước phát triển mới trong nhận thức về mối quan hệ giữa cơ chế thị trường, Nhà nước và doanh nghiệp. Tuy chưa khẳng định rõ “Nền kinh tế thị trường”, nhưng đã xác định “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”. Trong cơ chế đó, “Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất”, “Các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả; Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội”.
Về những yêu cầu của cơ chế thị trường, Đại hội nhấn mạnh: “Kiên trì vận dụng cơ chế thị trường đối với giá hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng; điều chỉnh từng bước mặt bằng giá và quan hệ tỷ giá cho phù hợp với sự thay đổi giá quốc tế đối với các loại vật tư, nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu...”.
Đại hội cũng chỉ rõ: “Thực tế cho thấy, bản thân nền kinh tế thị trường không phải là liều thuốc vạn năng. Hơn nữa, cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, kinh tế thị trường cũng là môi trường thuận lợi làm nảy sinh và phát triển nhiều loại tệ nạn xã hội. Để hạn chế và khắc phục những hậu quả tiêu cực ấy, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế, xã hội bằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền giáo dục và các công cụ khác”.
Cùng với những nhận thức mới về kinh tế thị trường, Đại hội VII yêu cầu “Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới, kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt trong sách lược, nhạy bén nắm bắt cái mới. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”, “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội. Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình”.
Đại hội VII xác định công bằng xã hội phải được thực hiện trong cả phân phối tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; quan hệ giữa người giàu và người nghèo; chính sách đền ơn đáp nghĩa và điều tiết thu nhập... Những quan điểm đó được triển khai trên thực tế đã tác động tích cực đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội và tăng cường đồng thuận xã hội.
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX (tháng 4-2001), khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính thức được thể hiện trong các văn kiện, đồng thời khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là mô hình kinh tế vừa có những đặc điểm chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc điểm riêng phù hợp với những điều kiện đặc thù của Việt Nam.
Kế thừa tư duy lý luận của Đại hội IX, Đại hội X của Đảng đã làm rõ thêm một bước nội dung cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên các phương diện: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta; nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục... Giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
Hội nghị Trung ương 6 khóa X đã tiếp tục quán triệt quan điểm trên đây, đồng thời nhấn mạnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Bên cạnh những thành tựu, Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Kinh tế phát triển chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc…”, đồng thời nhấn mạnh: “Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”. Chính vì thế, việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện về mặt lý luận cũng như liên hệ với thực tiễn trong bối cảnh hiện nay về những vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng cấp thiết.
Trước hết, cần khẳng định về mặt lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không đối lập nhau, có những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển nhưng điều đó hoàn toàn theo quy luật khách quan và có những phương thức giải quyết. Chúng ta xem kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mục đích khi phát triển nó theo một định hướng và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, nhằm phát huy tất cả những mặt tích cực và hạn chế những khuyết tật của nó. Chính vì vậy, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được Đại hội XI của Đảng xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược và đó cũng chính là khung pháp lý cho sự phát triển nền kinh tế.
Thứ hai, những đặc trưng và tiêu chí của kinh tế thị trường nói chung đã được thể hiện trong nhiều học thuyết kinh tế, trong thực tiễn phát triển và cả ở sự công nhận của cộng đồng quốc tế. Do đó trong quá trình phát triển, có thể tham khảo những đề xuất sau đây của WTO, EU và Mỹ:
Những tiêu chí của WTO: thương mại không phân biệt đối xử; tự do hóa thương mại và gia nhập thị trường; bảo đảm tính minh bạch, tiên liệu được trong chính sách thương mại; bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, chống bóp méo giá cả, chống bán phá giá; thúc đẩy phát triển và cải cách kinh tế, tạo điều kiện cho chính phủ khắc phục các dạng “thất bại” của thị trường thông qua ưu đãi thuế quan và thực hiện các dạng trợ cấp được phép.
Những tiêu chí của EU: mức độ ảnh hưởng (thấp) của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định của doanh nghiệp, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp; nhà nước không được can thiệp, bóp méo hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến quá trình tư nhân hóa; không sử dụng hệ thống thương mại phi thị trường (hàng đổi hàng) và không áp dụng chế độ bao cấp; ban hành và thực thi luật doanh nghiệp bảo đảm tính minh bạch, không phân biệt đối xử, tạo điều kiện phù hợp cho quản lý doanh nghiệp; ban hành và áp dụng một hệ thống luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch bảo đảm tôn trọng quyền sở hữu tài sản và bảo đảm sự vận hành của cơ chế phá sản doanh nghiệp; tồn tại một khu vực tài chính đích thực, hoạt động độc lập với nhà nước, về mặt luật pháp cũng như trên thực tế, chịu sự điều chỉnh của các quy định bảo lãnh đầy đủ, chịu sự giám sát một cách thỏa đáng; tự do hóa thị trường để mở rộng cạnh tranh.
Những tiêu chí của Mỹ: mức độ chuyển đổi của các đồng tiền nước ngoài với bản tệ; mức độ thỏa thuận về tiền lương giữa người lao động và nhà quản lý; mức độ tự do trong hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài; mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; mức độ kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của các doanh nghiệp; các yếu tố khác có liên quan như mức độ tự do hóa thị trường và thương mại, nhà nước pháp quyền, chống tham nhũng v.v..
Với những tiêu chí trên đây, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã thể hiện được tương đối đồng bộ, nhiều nước đã công nhận nước ta là nền kinh tế thị trường (trước hết là các nước thành viên của ASEAN). Tuy đến nay EU, Nhật Bản và Mỹ vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nhưng cùng với sự vận động thực tiễn nền kinh tế và quan hệ ngày càng tốt hơn giữa nước ta với các nước, thời hạn trên chắc chắn sẽ được rút ngắn.
Thứ ba, cần xác định những nội dung quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối”. Do vậy, một số nội dung cần được làm rõ và phát triển trong nghiên cứu:
- Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển.
- Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó vai trò của kinh tế nhà nước cần được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng.
- Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân định rõ quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ cụ thể, mọi đơn vị kinh doanh đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
- Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và theo nguyên tắc thị trường; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng với nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.
- Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.
Thứ tư, tiếp tục đi sâu nghiên cứu và có những nhận thức hệ thống, bổ sung để ngày càng toàn diện hơn về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta. Cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ để phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội; mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh. Trong đó kinh tế nhà nước phải được chú trọng đặc biệt, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Phát triển kinh tế phải đồng hành với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận các cơ hội kinh doanh và phân phối kết quả làm ra. Phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế của Nhà nước, chú trọng phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế...
Sự phát triển của nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau, trong đó kinh tế thị trường đã chứng tỏ sức sống tiềm tàng và những khả năng thích ứng với nhiều biến thể của lịch sử. Tuy nhiên, những rủi ro tiềm ẩn của kinh tế thị trường là rất lớn, nguy cơ của khủng hoảng, suy thoái của nó không phải âm ỉ như trong mô hình kinh tế kế hoạch mà bùng phát và mang tính dây chuyền cao, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Sức tăng trưởng cao, đồng thời nguy cơ khủng hoảng và suy thoái lớn là những đặc tính cố hữu của kinh tế thị trường, chỉ trong điều kiện xác định đúng đắn định hướng phát triển của nó, dự đoán và có khả năng đối phó với những nguy cơ và ảnh hưởng của kinh tế thị trường thì đất nước mới có thể đạt được những mục tiêu đặt ra./.
Nguyễn Tiến DũngTS, Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh