Trong một khuôn khổ hạn chế, bài viết thiên về dùng thí dụ minh họa và giản lược tối đa các lý luận về một số điều của kinh tế tri thức, cụ thể về hai câu hỏi: Kinh tế tri thức là gì? Việt Nam có cần kinh tế tri thức không và nếu có sẽ gặp những thách thức nào?
Kinh tế tri thức là gì?
Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, tiên phong bởi Fritz Machlup và Peter Drucker. Trong hơn bốn thập kỷ qua, đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Trong những năm qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau[2]. Bài viết này bắt đầu bằng việc trao đổi một cách hiểu người viết cho là gần với bản chất của kinh tế tri thức.
Trước hết là khái niệm kinh tế. Theo một nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia. Các hoạt động kinh tế thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: (a) Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản; (b) Công nghiệp; và (c) Thương mại, ngân hàng, dịch vụ, du lịch... Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp. Đây là các mô hình một mặt được dùng để mô tả các nền kinh tế đã và đang tồn tại, mặt khác được chọn dùng để dẫn dắt, điều hành các nền kinh tế. Ta sẽ bàn về kinh tế tri thức theo nghĩa hệ thống kinh tế, và câu hỏi sẽ là kinh tế tri thức là gì và khác với các hệ thống kinh tế khác thế nào?
Chúng ta đều biết trong kinh tế kế hoạch, các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chủ đạo là kế hoạch, do Chính phủ chỉ đạo và quản lý những gì sẽ được sản xuất, sản xuất bao nhiêu và cho ai, với sự nhấn mạnh đến yếu tố hướng tới phúc lợi xã hội. Trong kinh tế thị trường các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chính là thị trường, ở đó các doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích hoạt động với mục tiêu thu lợi nhuận, các nguồn lực được phân bổ theo cơ chế giá cả định đoạt bởi cung và cầu, với vai trò hạn chế của Nhà nước. Khác với hai mô hình kinh tế kể trên, trong kinh tế tri thức các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chủ yếu chi phối các hoạt động kinh tế là tri thức con người. Các tên gọi khác như kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hay kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) cho ta một cách hiểu trực giác hơn với sự nhấn mạnh về vai trò nền tảng và ảnh hưởng của tri thức trong kinh tế.
Cách tân, đổi mới đã giúp kinh tế Nhật Bản có những bước tiến vượt bậc
Cần nói thêm rằng các nền kinh tế thường không thuần túy theo riêng một mô hình. Hầu hết nền kinh tế của các nước phát triển hiện đang theo mô hình kinh tế thị trường, nhưng đã có nhiều tính chất của kinh tế tri thức và đang hướng dần đến mô hình kinh tế này theo những cách ít nhiều khác nhau.
Cho đến đây ta vẫn nói về tri thức nhưng chưa đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm trừu tượng này, vốn vẫn được bàn cãi xưa nay. Tuy nhiên, trong một chừng mực chấp nhận được, ta thừa nhận cách hiểu theo nghĩa cơ bản nhất của tri thức, tức những hiểu biết con người có được qua nhận thức, học tập, và quan sát. Trong bài này ta sẽ nói một cách đơn giản tri thức là hiểu biết, và dùng thay đổi hai từ này. Với đa số người Việt, “hiểu biết” dường như gợi hơn, thấm hơn từ Hán-Việt “tri thức”.
Sẽ có một câu hỏi tự nhiên rằng sự khác nhau ở đâu khi mọi hoạt động trong các hệ thống kinh tế đương nhiên đều dựa trên hiểu biết. Nói khác đi, việc nhấn mạnh lên vai trò của hiểu biết sẽ tạo ra sự khác biệt và đặc điểm gì trong hệ thống kinh tế mới này ở tất cả các ngành kinh tế, chẳng hạn so với các hệ kinh tế kế hoạch hay kinh tế thị trường? Câu trả lời chính là ở mức độ khác nhau của sự sáng tạo và sử dụng tri thức. Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm trong đó hai đặc điểm sau là tiêu biểu hơn cả:
Có một tỷ lệ cao các hoạt động kinh tế dựa trên hiểu biết và thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, như khoa học về sự sống, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, ...
Mọi hoạt động trong các ngành kinh tế đều dựa nhiều hơn và hiệu quả hơn vào việc dùng tri thức trong một môi trường toàn cầu hóa, và kinh tế được phát triển hài hòa với sự phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Quản trị trí thức là quá trình sáng tạo, thu nạp và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả của các tổ chức. Trong ảnh là bìa một cuốn sách về quản trị trí thức.
Có thể xem (a) là đặc điểm công nghệ và (b) là đặc điểm xã hội của kinh tế tri thức. Chúng tương hỗ bổ sung cho nhau để đặc trưng kinh tế tri thức, thậm chí (b) có vai trò bản chất hơn, chỉ ra nền kinh tế tri thức không đồng nhất với nền kinh tế của các công nghệ cao. Hai đặc điểm này có thể nhiều ít khác nhau trong các nền kinh tế tri thức của các quốc gia.
Theo nghĩa này, sản xuất nông nghiệp có thể có mặt trong kinh tế tri thức nếu người nông dân không chỉ dựa vào kinh nghiệm cha truyền con nối mà còn biết tìm và dùng được các hiểu biết của người khác, hoặc tìm ra cách mới sao cho việc trồng lúa nuôi lợn của mình tốt hơn, hoặc biết được nhu cầu xã hội, giao dịch và bán sản phẩm của mình qua Internet để có lợi hơn. Ngành du lịch có thể có mặt trong nền kinh tế tri thức nếu biết được tâm lý và nhu cầu của những nhóm du khách khác nhau, biết cung cấp các dịch vụ hấp dẫn, biết thu lãi trước mắt vừa đủ để giữ và thu hút khách lâu dài. Một quốc gia chỉ làm nông nghiệp và du lịch vẫn có thể xây dựng được nền kinh tế tri thức. Và thật ra cách hiểu này với sự nhấn mạnh yếu tố (b) mới mở đường để nhiều nước đang phát triển có thể định ra và hướng đến một nền kinh tế tri thức của riêng mình, khi hiện tại chưa có những ưu thế cạnh tranh về công nghệ cao.
Những ý niệm về kinh tế tri thức kể trên phù hợp với các định nghĩa được đề xuất và hiệu chỉnh dần trong những năm qua của một số tổ chức quốc tế:
“Là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng.” (Ngân hàng Thế giới, World Bank). [11]
“Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin.” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD). [6]
“Là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.” (Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, APEC). [1]
Ta lấy một vài thí dụ để phân tích các định nghĩa này, như định nghĩa của Ngân hàng Thế giới. Chẳng hạn việc khai thác và bán một số tài nguyên thiên nhiên ở dạng thô là những hoạt động kinh tế không chứa hàm lượng tri thức cao. Một nền kinh tế tri thức sẽ hướng đến việc làm sao để biết cách chế biến các tài nguyên thô thành các sản phẩm có giá trị cao hơn trước khi bán ra, đến việc có các thông tin toàn cầu về những quốc gia nào cần bán và mua các tài nguyên này để có quyết sách hợp lý nhất. Nếu có hiểu biết và không chỉ nhằm thị trường trước mắt, rất có thể việc hoãn vài chục năm không khai thác và bán ngay một số tài nguyên sẽ có lợi hơn trong toàn cục. Đây là việc “sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội”. Chẳng hạn lúc này ta đang phải quyết định một chuyện rất hệ trọng về xây dựng các nhà máy điện hạt nhân[10]. Rõ ràng ta cần tìm hiểu để biết mọi nhẽ của kiến thức loài người về điện hạt nhân, việc xây dựng và vận hành chúng, những bài học thành bại của các quốc gia. Đây là việc “thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu”. Chẳng hạn khi ta phát hiện ra và muốn khai thác mỏ than nâu dưới lòng đồng bằng sông Hồng, ta cần phải biết rất rõ về trữ lượng, biết công nghệ, biết tác động của nước ngầm đến sụt lún, biết những rủi ro có thể xảy ra. Đây là việc “thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng”.
Ngoài hai đặc điểm tiêu biểu về bản chất của kinh tế tri thức đã nêu trên, có thể kể đến một số tính chất tạo ra sự khác biệt giữa kinh tế tri thức và các hệ kinh tế khác. Một là tính chất toàn cầu của kinh tế tri thức. Không nền kinh tế của một quốc gia nào ngày nay có thể nằm ngoài mạng lưới kinh tế toàn cầu, và đương nhiên hiểu biết về các quốc gia khác để có cách phát triển kinh tế hợp lý của mình là điều hiển nhiên rất quan trọng. Trong cái bối cảnh toàn cầu đầy cạnh tranh này, sự “khôn sống mống chết” càng rõ, mà cái sự khôn ấy bắt đầu từ việc có hiểu biết về các nước khác trước khi đưa ra được những quyết định khôn ngoan. Hai là tính chất động theo cơ hội của nền kinh tế tri thức. Ta đang phải phát triển trong một thế giới đầy biến động, nơi điều duy nhất chắc chắn là sự không chắc chắn của chính thế giới này [4]. Trong những biến động ấy, hiểu biết về các cơ hội và rủi ro để có thể đối mặt với chúng là rất cần. Môi trường càng biến động, quốc gia nào có hiểu biết để nắm được cơ hội sẽ càng phát triển được nhanh. Ba là tính chất con người có tri thức là nguồn lực chính của kinh tế tri thức. Bổ sung vào lý thuyết kinh tế tân-cổ điển xem hai nguồn lực chính của kinh tế là vốn tài chính và sức lao động, kinh tế tri thức nhấn mạnh thêm về con người có tri thức. Nguồn lực con người có tri thức cao sẽ được nói ở phần sau về giáo dục và đào tạo trong kinh tế tri thức.
Việt Nam có cần kinh tế tri thức không và nếu có sẽ gặp những thách thức nào?
Để trả lời câu hỏi này hãy xem kinh tế ta đang ở đâu và cách nào để có thể tiến lên. Lấy một thí dụ để so sánh hai nền kinh tế Việt Nam và Nhật Bản, một là nền kinh tế thị trường phát triển nhưng đang hướng đến và đã mang nhiều tính chất của kinh tế tri thức, và một là nền kinh tế hỗn hợp còn mang ít tính chất của kinh tế tri thức. Sự nhiều ít này được nhìn nhận theo mức độ ảnh hưởng và chi phối của tri thức trong các hoạt động kinh tế.
Việt Nam (2007)
Nhật Bản (2007)
Ngành kinh tế
Đóng góp cho GDP
Ngành kinh tế
Đóng góp cho GDP
Nông, lâm nghiệp, thủy hải sản
20,34%
Nông, lâm nghiệp, thủy hải sản
0.9%
Công nghiệp (chế biến, khai mỏ)
41,48% (31,03%)
Công nghiệp (chế tạo)
28,9% (21,0%)
Thương mại, dịch vụ, du lịch, ...
(tài chính, tín dụng)
38,18%
(1,80%)
Thương mại, dịch vụ, du lịch, ...
(dịch vụ)
70,8% (30,9%)
Bảng 1. So sánh đóng góp vào GDP của Việt Nam và Nhật Bản theo
các ngành kinh tế (phần trong dấu ngoặc là nội dung và số liệu của một vài lĩnh vực).
Bảng 1 tóm tắt các số liệu tổng hợp về đóng góp cho tổng thu nhập quốc dân năm 2007 theo ba ngành kinh tế của Việt Nam[8] và Nhật Bản[7]. Các số liệu tổng hợp này cho thấy ngành nông lâm ngư nghiệp của Việt Nam góp một phần lớn của GDP (20,34%) trong khi ngành này của Nhật chỉ góp chưa đầy 1%. Ngành công nghiệp của Việt Nam đóng góp 41,48% của GDP, trong đó khai mỏ (dầu khí, than... chưa có phần bô-xít) và công nghiệp chế biến (may mặc quần áo, giày dép xuất khẩu...) góp đến 31,03%, tức gần một phần ba của GDP. Ngành công nghiệp của Nhật Bản chỉ góp gần một phần ba của GDP (28,9%), trong đó phần của công nghiệp chế tạo là 21%. Điều này có thể làm nhiều người ngạc nhiên khi vẫn thường nghĩ rằng GDP của Nhật phần lớn do làm ra và bán được nhiều ô tô Toyota, xe máy Honda, máy ảnh Canon, máy tính Fujitsu... Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch... của Việt Nam đóng góp 38,18% của GDP, trong khi ngành này của Nhật Bản góp 70,8%, tức khoảng hai phần ba GDP. Đáng chú ý là ngành tài chính và tín dụng của ta chỉ khiêm tốn góp 1,8%, còn các ngành dịch vụ của Nhật góp 30,9% của GDP, tức gần một phần ba.
Từ đây có thể thấy rõ hơn là GDP của ta phần lớn thu được từ các ngành sản xuất đơn giản ít đòi hỏi hàm lượng tri thức cao, như công nghiệp chế biến hay khai thác tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, GDP của Nhật Bản phần lớn có được do các hoạt động kinh tế không liên quan đến việc làm ra hàng hóa, họ gọi là “công nghiệp tri thức”, hoặc các ngành chế tạo dựa trên công nghệ cao.
Để có thêm một định ý cho câu trả lời liệu Việt Nam có cần kinh tế tri thức không, hãy xét thêm một thí dụ về mối quan hệ giữa các nước phát triển và đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu.
Hình 1. Dịch chuyển cấu trúc kinh tế ở Đông Á
Hình 1 là một bức tranh về dịch chuyển cấu trúc kinh tế ở đông Á[5], trong đó trục hoành chỉ sự thay đổi theo thời gian (tương đối) và trục tung chỉ nhóm các nước ở đông Á có sự phát triển kinh tế chi phối bởi yếu tố tri thức và trình độ sản xuất ở các mức khác nhau. Nhóm các nước mới công nghiệp hóa (NIEs) gồm Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Singapore; nhóm Đông Nam Á 4 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Việt Nam nằm trong những nước sau cùng.
Xu thế chung của sự dịch chuyển này là mỗi khi các nước ở nhóm đi trước nâng trình độ sản xuất và dòng sản phẩm tiêu biểu lên một mức, dòng sản phẩm tiêu biểu cũ sẽ được chuyển dịch tới các nước đi ngay sau. Vì nằm ở nhóm sau cùng trong mối quan hệ này, Việt Nam hiện đang chủ yếu làm công nghiệp chế biến và gia công, với ít hàm lượng tri thức. Và nếu không có cách thay đổi cái lược đồ dịch chuyển này, ta sẽ chỉ luôn làm được việc người khác không làm nữa khi họ chuyển qua các việc có lợi nhuận kinh tế cao hơn do có nhiều hiểu biết hơn. Không vui nhưng nếu thừa nhận rằng nhận định nêu trong Hình 1 có nhiều phần đúng, có thể thấy các nước phát triển đang dần đi trước đến nền kinh tế tri thức. Sự dịch chuyển này dễ làm cho các nước đi sau trong đó có ta sẽ luôn đi sau với tiềm ẩn nguy cơ ngày càng tụt hậu. Có thể nói một cách tổng quát rằng sự khác biệt giữa các quốc gia đã và sẽ chính là sự khác biệt về hiểu biết, và thách thức lớn nhất của chúng ta chính là thách thức để vượt qua sự khác biệt này.
Hình 2. Tứ trụ của nền kinh tế tri thức
Có nhiều lý do cho thấy việc có và dùng hiệu quả tri thức trong các hoạt động kinh tế và xã hội là con đường chúng ta cần đi. Vì nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể là vô hạn để có thể khai thác và bán mãi, vì phát triển không thể bền vững nếu dựa quá nhiều vào nhập khẩu công nghệ và sản phẩm của thiên hạ, vì không thể vượt ra khỏi nhóm đi sau hay đi cuối nếu ta không tìm được cách để làm những việc khác ngoài gia công và chế biến, hay đào mỏ, chặt rừng, bắt cá.
Tất nhiên làm sao để xây dựng nền kinh tế tri thức là câu hỏi của cả đất nước. Nhưng nếu muốn làm kinh tế tri thức, cần xem đâu là những thách thức của ta, chẳng hạn những gì là nền tảng của một nền kinh tế tri thức và ta đã có bao nhiêu?
Ngân hàng Thế giới cho rằng các nền kinh tế tri thức cần dựa trên bốn trụ cột sau[10]:
Môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức: Một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của tri thức, hỗ trợ đầu tư cho công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), khuyến khích việc làm chủ doanh nghiệp như trọng tâm của kinh tế tri thức.
Giáo dục và đào tạo: Có chất lượng cao để người dân được giáo dục và đào tạo năng lực sáng tạo, chia sẻ, và sử dụng tri thức.
Hệ thống cách tân: Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, đại học, tổ chức chuyên gia cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là cần thiết để thu nhận được kho tri thức toàn cầu luôn không ngừng tăng, truyền bá và thích ứng chúng cho các nhu cầu của đất nước, và sáng tạo ra các tri thức mới cần thiết.
Hạ tầng cơ sở thông tin: Một hạ tầng cơ sở thông tin động, từ radio đến Internet, là cần thiết để cho phép dễ dàng liên lạc, phổ biến, và xử lý thông tin.
Mặc dù còn những tranh luận, giả sử ta thừa nhận bốn trụ cột này để xem ta sẽ gặp những thách thức nào khi phải xây dựng chúng.
Tạo ra được một môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức trước hết là việc của chính quyền và bộ máy lập pháp. Một thách thức là làm sao để nâng cao được dân trí toàn xã hội. Khi dân trí được nâng cao, người dân sẽ có thêm động lực và khả năng tìm kiếm dòng chảy tri thức, hoạt động sáng tạo cũng như tăng xu hướng làm chủ doanh nghiệp. Vì những cán bộ của bộ máy chính quyền và địa phương là những công dân có ảnh hưởng nhiều hơn đến môi trường kinh tế và thể chế xã hội, việc nâng cao được quan trí, như dân gian thường nói, là một điều hệ trọng. Những yếu kém về tri thức của một số quan chức mà người dân đôi khi được biết như chuyện “ngực lép xe máy”, chuyện “100% tiến sĩ”,... cho thấy đây là một thách thức lớn khi ta muốn đến nền kinh tế tri thức.
Giáo dục và đào tạo là chuyện sống còn của đất nước. Đương nhiên nếu giáo dục không làm được sứ mạng đào tạo được những người có tinh thần và khả năng sáng tạo, sẽ không có cách nào tiến đến kinh tế tri thức. Nói riêng về đào tạo người lao động có tri thức trong công nghiệp, nhìn theo năm nhóm ngành [9], A: Hàm lượng lao động cao và làm việc giản đơn như may mặc, giày dép...; B: Hàm lượng lao động cao và sử dụng nguyên liệu nông lâm ngư nghiệp như chế biến thực phẩm; C: Hàm lượng tư bản cao và sử dụng tài nguyên khoáng sản như thép, hóa dầu...; D: Hàm lượng lao động cao và lành nghề, làm các sản phẩm như đồ điện gia dụng, xe máy, bơm nước, linh kiện điện tử...; E: Hàm lượng công nghệ cao và làm máy tính, công nghệ thông tin và truyền thông, xe hơi, đồ điện tử cao cấp... Ở Đông Á, Trung Quốc tập trung vào A và lắp ráp trong D; Thái Lan và các nước Đông Nam Á 4 có lợi thế trong B và D; Nhật Bản và các nước NIEs giữ lợi thế ở D và đang tăng phần sản xuất bên ngoài nên Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á đang dịch chuyển về D. Việt Nam đang chủ yếu làm A và B. Rõ ràng muốn chuyển dịch qua các nhóm ngành khác như C, D, và E, chúng ta phải đối mặt với bài toán đào tạo người lao động có tri thức cao hơn, làm được những việc ở các nhóm ngành này.
Xây dựng được một hệ thống cách tân là một thách thức rất lớn, tức hệ thống các tổ chức đóng vai trò thu nhận và sáng tạo tri thức chủ yếu trong xã hội. Việc này liên quan tới những thách thức lâu nay của ta như chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu. Một khía cạnh ở đây là thách thức về tính cách tân của các tổ chức trong xã hội. Quản trị tri thức (knowledge management)- lý thuyết và thực tiễn về quá trình sáng tạo, thu nạp và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả của các tổ chức- là một công cụ rất đáng quan tâm cho cuộc cách tân này. Có thể lấy thí dụ về quản trị tri thức của các công ty Nhật Bản, được mô hình hóa trong cuốn sách nổi tiếng của Nonaka và Takeuchi [4]. Sự vượt lên kỳ diệu của Nhật Bản từ hoang tàn đổ nát sau Đại chiến thế giới thứ hai là điều đáng tìm hiểu và học tập. Khi này các công ty Nhật Bản phải vươn lên trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt. Họ cần có công nghệ mới, thiết kế sản phẩm mới, quá trình sản xuất mới, cách tiếp cận thị trường mới. Các công ty Nhật đã thực hiện được hiệu quả quá trình sáng tạo những tri thức cần cho phát triển kinh tế. Mọi thành viên của các công ty được khuyến khích chia sẻ tri thức mình tích lũy được với đồng nghiệp, góp vào tài sản tri thức của công ty, cùng nhau hợp sức tạo ra tri thức công nghệ và sản phẩm mới của công ty. Cách họ làm dựa trên sự tương tác liên tục theo một dòng xoắn ốc không ngừng tăng giữa các khía cạnh của tri thức ẩn và tri thức tường minh của các cá thể, nhóm và tổ chức. Công thức của sự thành công của các công ty Nhật Bản là: Sáng tạo tri thức --> Liên tục cách tân --> Ưu thế cạnh tranh [4].
CNTT&TT là hạ tầng cơ sở để thực hiện hầu hết các hoạt động của kinh tế tri thức, là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ cho ba trụ cột nêu ở trên về giáo dục và đào tạo, hệ thống cách tân, môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho việc sáng tạo và sử dụng tri thức. Thách thức trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở CNTT&TT là chuyện thời sự của ta hiện nay khi Nhà nước đang đặt mục tiêu tăng tốc để trở thành một nước mạnh về CNTT&TT.
Đang và sẽ sớm có nhiều bàn luận về thách thức này, nên ta không phân tích gì ở đây, chỉ nêu hai thí dụ cho thấy CNTT&TT có thể ảnh hưởng ra sao trong nền kinh tế tri thức, đồng thời cũng cho thấy những thách thức trong việc đưa CNTT&TT vào hỗ trợ những hoạt động kinh tế như vậy. Thí dụ thứ nhất lại về ngành du lịch. Không phải mọi người liên quan đến làm du lịch của ta đều biết rằng ngày nay các du khách nước ngoài sau mỗi chuyến đi thường viết những nhận xét để trên Web cho mọi người tham khảo, và mỗi người trước khi quyết định đi đâu ở đâu đều tìm xem nhận xét của người khác. Những chuyện tưởng nhỏ như cái hay điều dở tại một thắng cảnh, tại một khách sạn xa xôi ở Việt Nam đều được lên mạng. Những chuyện như đi suốt buổi không tìm ra nhà vệ sinh, như giá cao phục vụ dở, hơn 70% du khách được hỏi đã nói không muốn quay lại Việt Nam,... dễ dàng được biết qua Internet, và có thể làm một lượng lớn du khách thay vì chọn Việt Nam, sẽ chọn Thái Lan, nơi ngành du lịch thường nhận được những đánh giá tốt trên mạng. Thí dụ thứ hai là về CNTT&TT hỗ trợ con người vượt qua rào cản ngôn ngữ để tăng hiểu biết. Tri thức loài người được diễn đạt theo các ngôn ngữ khác nhau. May thay những chương trình dịch tự động tiếng nói và chữ viết, tuy chất lượng chưa thật cao nhưng đang được cải thiện rất nhanh do tiến bộ của CNTT, đã cho phép con người ở một mực độ chấp nhận được trong rất nhiều công việc, đọc được các tài liệu hay các trang Web viết trong ngôn ngữ khác, nghe hiểu được tiếng nói trong ngôn ngữ khác. Có được những hỗ trợ này để người Việt hiểu được tiếng nói và chữ viết trong nhiều ngôn ngữ khác cũng là một thách thức của CNTT&TT trong nền kinh tế tri thức.
Lời kết
Kinh tế tri thức là con đường ta cần đi và đi càng sớm càng tốt. Có những nghiên cứu chỉ ra kinh tế tri thức đã xuất hiện ở Việt Nam qua sự phát triển CNTT&TT[3]. Theo đuổi khoa học hiện đại và công nghệ cao là một cách ta cần làm trong kinh tế tri thức, nhưng không phải duy nhất. Để một đất nước còn hạn chế về khoa học và công nghệ như ta có được sản phẩm công nghệ cao cạnh tranh với thiên hạ là vô cùng gian truân. Nếu không biết và đặt mục tiêu không thích hợp, ta dễ rơi vào tình huống “người đi chân đất muốn đóng giày bán cho thiên hạ”.
Cần nghĩ về tính đa dạng của kinh tế tri thức khi ta hướng tới nền kinh tế này. Thí dụ sau đây giả định về một hoạt động trong một nền kinh tế tri thức và có thể gợi những suy nghĩ. Theo các số liệu dễ dàng tìm thấy trên mạng, vào năm 2010 ước tính nước Nhật có khoảng 5,2 triệu người ở tuổi trên 80, và năm 2020 khoảng 9,9 triệu. Giả sử 30% số người này cần được chăm sóc ở các nhà dưỡng lão, tức khoảng triệu rưỡi và ba triệu người vào các năm trên. Giả sử một người trẻ chăm sóc được mười người già, thì số người trẻ cần cho việc này là 150 nghìn và 300 nghìn. Nếu biết thêm rằng số người trẻ ở Nhật đang giảm, và hầu hết không muốn làm việc chăm sóc người già, và nếu biết có nghiên cứu đã chỉ ra những tính cách giống nhau giữa người dân hai nước, ta có thể nghĩ đến một dịch vụ kinh tế hiệu quả. Lẽ nào những hoạt động như vậy lại không đáng quan tâm trong một nền kinh tế dựa trên tri thức?
-----------------
Hồ Tú Bảo*
* Trường Khoa học Tri thức, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản
Tài liệu tham khảo chính
1 Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC), “Towards knowledge-based economies in APEC”, APEC Economic Committee Report, 11.2000.
2 Đặng Hữu, Kinh tế tri thức: Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005.
3 Đặng Thị Việt Đức, The emergence of knowledge economy through ICT in developing countries: The case of Vietnam, Luận án Tiến sĩ, JAIST, 11.2009.
4 Nonaka, I. and Takeuchi, H., The knowledge-creating company, Oxford University Press, 2005.
5 Ohno, K., “The East Asian growth regime and political development”, Vietnamese Students Symposium on Economy and Technology, Tokyo, October 2007.
6 Organization for Economy Cooperation and Development (OECD), “The new economy: Beyond the hype”, Final report on the OECD Growth Project, 2001.
7 Tổng cục Thống kê và Kế hoạch hóa Nhật Bản, http://www.stat.go.jp/data/nihon/03.htm
8 Tổng cục Thống kê Việt Nam, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&idmid=3&ItemID=8664
9 Trần Văn Thọ, Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa của Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005.
10 Tuần Việt Nam, “Điện hạt nhân: Không phải việc riêng của ngành điện”, http://www.tuanvietnam.net/2009-11-12-dien-hat-nhan-khong-phai-viec-cua-rieng-nganh-dien
11 World Bank, “Knowledge for development”, World Development Report, 1999.
Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012
Kinh tế tri thức: Việt Nam đang ở đâu?
TTCT - Bản tường trình mới đây của UNESCO về kinh tế tri thức trên thế giới cho thấy thang bậc về kinh tế tri thức của Việt Nam dù có tăng thời gian qua nhưng vẫn còn quá thấp so với các nước trong vùng. Một trong những lý do khiến Việt Nam ở thứ hạng thấp như vậy là do yếu kém về giáo dục và nghiên cứu khoa học.
Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế liên quan tới mức độ cạnh tranh về công nghệ. Cạnh tranh công nghệ lại phụ thuộc vào khoa học và nghiên cứu khoa học (NCKH). Do vậy, trong nền kinh tế tri thức, NCKH đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế.
Chỉ số KEI: xếp hạng 106/145
Ngân hàng Thế giới đã phát triển một số chỉ số để đo lường một nền kinh tế tri thức. Những chỉ số này bao gồm chỉ số tri thức, chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục, công nghệ thông tin. Từ các chỉ số này người ta có thể tổng kết thành một chỉ số chung gọi là chỉ số kinh tế tri thức (Knowledge Economy Index hay KEI). Nhìn toàn cục, các chỉ số này phản ánh phần nào tình trạng kinh tế tri thức của một nước và cho phép chúng ta so sánh với các nước khác.
Trong báo cáo về tình hình khoa học trên thế giới năm nay của Tổ chức Giáo dục - khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), có 145 nước được xếp hạng về kinh tế tri thức. Kết quả phân tích và xếp hạng cho thấy (dựa vào chỉ số KEI) nền kinh tế tri thức của Việt Nam đứng hạng 106 trên 145.
Nếu dựa vào chỉ số H thì Việt Nam đứng ở đâu trên bản đồ khoa học quốc tế?
Theo số liệu của SCOPUS, chỉ số H của Việt Nam trong thời gian 1996-2009 là 84. Nói cách khác, trong số hơn 8.000 bài báo khoa học công bố thời gian trên có 84 bài được trích dẫn ít nhất là 84 lần. Với chỉ số H này, Việt Nam đứng hạng 61 (trong số 235 nước), trong khi Thái Lan hạng 39, Malaysia 54, Indonesia 58 và Philippines 56. Các cường quốc khoa học châu Á như Singapore hạng 31, Hàn Quốc 21 và Trung Quốc 18, cách Việt Nam khá xa.
So với năm 1995, thứ hạng của Việt Nam tăng 14 bậc. Song so với các nước tương đương trong vùng, kinh tế tri thức của Việt Nam thấp nhất (Indonesia hạng 103, Philippines hạng 89, Thái Lan 63, Malaysia 48 và Singapore hạng 19). Việt Nam thậm chí còn ở thứ hạng thấp hơn cả bán đảo Fiji (hạng 86)! Đấy là bảng xếp hạng trong tình hình Philippines đã giảm 16 bậc, Indonesia giảm 2 và Thái Lan giảm 9 bậc.
Sản phẩm của NCKH ngoài những bài báo công bố trên các tập san quốc tế còn thể hiện qua số bằng sáng chế - một hình thức chuyển giao công nghệ. Từ năm 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng ký được 19 bằng sáng chế, có năm như năm 2007 chẳng có bằng sáng chế nào. Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng ký được 310 bằng sáng chế, Singapore 3.644, Indonesia có 85, Philippines 256 và Malaysia có tới 901 bằng sáng chế.
Nếu nhìn vào tình hình xuất khẩu hàng hóa kỹ thuật cao (hi-tech) - một chỉ số quan trọng của nền kinh tế tri thức - thì thấy năm 2008, Việt Nam xuất khẩu đạt 48,6 tỉ USD. Con số này có vẻ ấn tượng nhưng vẫn chưa bằng 1/3 của Thái Lan (153,6 tỉ USD) và chỉ bằng 16% của Singapore (399,3 tỉ USD). Và thật ra, xuất khẩu hàng hi-tech của Việt Nam thấp nhất so với các nước trong khu vực. Hơn 1/5 tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam là khoáng sản và có tới 41% là hàng công nghiệp mà chủ yếu là gia công, dệt may. Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%). Singapore cũng tương tự Thái Lan.
Những kết quả phân tích trên cho thấy vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh tế tri thức thế giới còn rất thấp. Những số liệu một lần nữa cho thấy lĩnh vực nghiên cứu chủ đạo của Việt Nam là y sinh học và vật lý chứ không phải toán. Và cho thấy ngay “nội lực” khoa học cũng kém vì có tới 62% công trình nghiên cứu phải hợp tác với nước ngoài và vì xuất khẩu hàng hóa hi-tech ở mức thấp nhất trong vùng.
Định vị khoa học Việt Nam trên trường quốc tế
Kết quả nghiên cứu khoa học thể hiện qua số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trong những tập san chuyên ngành có bình duyệt quốc tế (peer review). Tuy có tới hơn 100.000 tập san khoa học trên toàn thế giới, chỉ có những tập san được liệt kê trong danh mục của Institute of Scientific Information (ISI) là được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Do đó, trên bình diện quốc gia, người ta dựa vào số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san thuộc thư mục ISI như là một thước đo để đánh giá và xếp hạng các nước.
Trong vài năm gần đây, nhiều người đã phân tích số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học của nước ta, so sánh với các nước trong vùng cho thấy khoa học nước ta nói chung còn kém. Từ năm 2001-2010, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 8.220 bài báo khoa học trên các tập san ISI, dù đã tăng 3,4 lần so với thập niên trước đó (1991-2000) song vẫn chỉ bằng 1/4 của Thái Lan, 1/3 Malaysia và 1/6 Singapore.
Tuy vậy, các phân tích trên chưa định vị khoa học Việt Nam trên trường quốc tế ra sao.
Để xác định vị trí của nghiên cứu khoa học trên trường quốc tế, người viết bài này sử dụng dữ liệu của ISI và SCOPUS (các thư mục khoa học quốc tế) trong thời gian 14 năm (từ 1996-2009). Có nhiều cách định vị (hay xếp hạng) khoa học, nhưng tựu trung là dựa vào số lượng và một chỉ số hỗn hợp giữa số lượng và chất lượng. Đơn giản nhất là dựa vào số lượng ấn phẩm khoa học, vì chỉ số này phản ánh khối lượng thông tin khoa học “sản xuất” của một nước.
Nhưng cách xếp hạng này có vấn đề, vì có nước công bố rất nhiều công trình khoa học nhưng chẳng ai quan tâm vì chất lượng quá thấp. Tiêu biểu cho xu hướng này là Trung Quốc: từ năm 1996-2009, Trung Quốc công bố 1,5 triệu ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, đứng thứ 2 sau Mỹ với gần 4,77 triệu bài báo khoa học, nhưng nếu dựa vào tầm ảnh hưởng thì Trung Quốc đứng hạng 10 trong số 235 nước có thể xếp hạng.
Số lượng công trình khoa học chỉ phản ánh lượng mà không phản ánh phần chất. Một nhà khoa học có thể có hàng trăm bài báo khoa học, nhưng chẳng ai trích dẫn hay quan tâm thì không thể xem là một nhà khoa học giỏi. Do đó, cách xếp hạng khách quan và hợp lý hơn là dựa vào chỉ số H (một sáng kiến của nhà vật lý học Jorge Hirsch - Đại học California San Diego). Có thể hiểu như sau: nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu, mỗi công trình được trích dẫn ít nhất 20 lần.
Cần nói thêm rằng một nhà khoa học với chỉ số H 20 là ở vào đẳng cấp giáo sư. Các nhà khoa học y sinh học, vật lý học, hóa học từng đoạt giải Nobel thường có chỉ số H trên 30. Do đó, chỉ số H “dung hòa” giữa lượng và chất trong xếp hạng khoa học của một nước (xem bảng).
Cần chuẩn mực mới và cách mạng khoa học, công nghệ
Những kết quả phân tích trên một lần nữa cho thấy khoa học Việt Nam chẳng những ở một vị trí thấp trên thế giới mà còn thấp so với các nước trong vùng. Tính chung, ta chỉ cao hơn Lào, Campuchia và Myanmar.
Cả nước hiện có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, cùng với trên 3 vạn tiến sĩ nhưng mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn, nếu nhìn theo chuẩn mực quốc tế mỗi giáo sư phải có ít nhất một bài báo khoa học mỗi năm.
Vấn đề là ở nước ta vẫn tồn tại một sự nhầm lẫn giữa bài báo khoa học và bài báo phổ thông. Chẳng hạn, gần đây báo chí nói đến một nhà khoa học có số lượng bài báo kỷ lục về rùa, nhưng tìm hiểu thì ông này chỉ có hai công trình nghiên cứu và chưa có bài nào trên một tập san quốc tế! Không ít nhà khoa học nghĩ rằng những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hay thậm chí trên báo chí phổ thông là công trình nghiên cứu! Với cách làm khoa học như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học quốc gia rất thấp so với quốc tế.
Vấn đề là cộng đồng khoa học Việt Nam chưa nhất trí tạo ra những chuẩn mực khách quan để đánh giá thành tựu một nhà khoa học. Vì thiếu một chuẩn mực khách quan nên có sự lẫn lộn giữa bài báo phổ thông, bảng tóm tắt trong hội nghị và một bài báo khoa học nghiêm chỉnh. Từ sự lẫn lộn này dẫn đến những sai lầm trong đánh giá và đề bạt các chức danh khoa học. Từ đó chúng ta có rất nhiều nhà khoa học “phổ thông”, nhưng rất ít những nhà khoa học thứ thiệt.
Theo thông lệ quốc tế, một công trình khoa học chỉ có thể xem là hoàn tất nếu kết quả công trình đó được công bố trên những tập san khoa học có bình duyệt, để người ta có thể công khai đánh giá công trình khoa học đó giá trị ra sao. Một công trình mang tiếng là nghiên cứu khoa học, tiêu nhiều triệu, thậm chí nhiều tỉ đồng (tiền thuế của dân đóng) mà không được công bố trên các tập san khoa học có bình duyệt, tức không công khai quốc tế, thì không thể xem là hoàn tất được và như vậy tác giả vẫn còn nợ người dân.
Đã đến lúc thiết lập các tiêu chuẩn để đánh giá một công trình khoa học và cần thay thế quy trình “nghiệm thu” bằng những bài báo khoa học quốc tế - cách mà Quỹ Nafosted của Bộ Khoa học - công nghệ đang áp dụng.
Những nước tiến rất nhanh trên con đường công nghiệp hóa như Hàn Quốc và Singapore đều có đặc điểm nổi bật là khoa học rất mạnh. Chỉ trong vòng 20 năm, Hàn Quốc và Singapore đã trở thành cường quốc về khoa học với nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu.
Năm 2020 được xem là thời điểm đến đích của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước của Việt Nam, tức chỉ còn chín năm. Đại hội Đảng XI mới đây nhấn mạnh đến “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”. Từ vị trí hiện nay, mục tiêu cao cả đó có thể hoàn thành được không nếu không có một cuộc cách mạng trong khoa học và công nghệ?
GS NGUYỄN VĂN TUẤN
__________
Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế liên quan tới mức độ cạnh tranh về công nghệ. Cạnh tranh công nghệ lại phụ thuộc vào khoa học và nghiên cứu khoa học (NCKH). Do vậy, trong nền kinh tế tri thức, NCKH đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế.
Chỉ số KEI: xếp hạng 106/145
Ngân hàng Thế giới đã phát triển một số chỉ số để đo lường một nền kinh tế tri thức. Những chỉ số này bao gồm chỉ số tri thức, chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục, công nghệ thông tin. Từ các chỉ số này người ta có thể tổng kết thành một chỉ số chung gọi là chỉ số kinh tế tri thức (Knowledge Economy Index hay KEI). Nhìn toàn cục, các chỉ số này phản ánh phần nào tình trạng kinh tế tri thức của một nước và cho phép chúng ta so sánh với các nước khác.
Trong báo cáo về tình hình khoa học trên thế giới năm nay của Tổ chức Giáo dục - khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), có 145 nước được xếp hạng về kinh tế tri thức. Kết quả phân tích và xếp hạng cho thấy (dựa vào chỉ số KEI) nền kinh tế tri thức của Việt Nam đứng hạng 106 trên 145.
Nếu dựa vào chỉ số H thì Việt Nam đứng ở đâu trên bản đồ khoa học quốc tế?
Theo số liệu của SCOPUS, chỉ số H của Việt Nam trong thời gian 1996-2009 là 84. Nói cách khác, trong số hơn 8.000 bài báo khoa học công bố thời gian trên có 84 bài được trích dẫn ít nhất là 84 lần. Với chỉ số H này, Việt Nam đứng hạng 61 (trong số 235 nước), trong khi Thái Lan hạng 39, Malaysia 54, Indonesia 58 và Philippines 56. Các cường quốc khoa học châu Á như Singapore hạng 31, Hàn Quốc 21 và Trung Quốc 18, cách Việt Nam khá xa.
So với năm 1995, thứ hạng của Việt Nam tăng 14 bậc. Song so với các nước tương đương trong vùng, kinh tế tri thức của Việt Nam thấp nhất (Indonesia hạng 103, Philippines hạng 89, Thái Lan 63, Malaysia 48 và Singapore hạng 19). Việt Nam thậm chí còn ở thứ hạng thấp hơn cả bán đảo Fiji (hạng 86)! Đấy là bảng xếp hạng trong tình hình Philippines đã giảm 16 bậc, Indonesia giảm 2 và Thái Lan giảm 9 bậc.
Sản phẩm của NCKH ngoài những bài báo công bố trên các tập san quốc tế còn thể hiện qua số bằng sáng chế - một hình thức chuyển giao công nghệ. Từ năm 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng ký được 19 bằng sáng chế, có năm như năm 2007 chẳng có bằng sáng chế nào. Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng ký được 310 bằng sáng chế, Singapore 3.644, Indonesia có 85, Philippines 256 và Malaysia có tới 901 bằng sáng chế.
Nếu nhìn vào tình hình xuất khẩu hàng hóa kỹ thuật cao (hi-tech) - một chỉ số quan trọng của nền kinh tế tri thức - thì thấy năm 2008, Việt Nam xuất khẩu đạt 48,6 tỉ USD. Con số này có vẻ ấn tượng nhưng vẫn chưa bằng 1/3 của Thái Lan (153,6 tỉ USD) và chỉ bằng 16% của Singapore (399,3 tỉ USD). Và thật ra, xuất khẩu hàng hi-tech của Việt Nam thấp nhất so với các nước trong khu vực. Hơn 1/5 tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam là khoáng sản và có tới 41% là hàng công nghiệp mà chủ yếu là gia công, dệt may. Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%). Singapore cũng tương tự Thái Lan.
Những kết quả phân tích trên cho thấy vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh tế tri thức thế giới còn rất thấp. Những số liệu một lần nữa cho thấy lĩnh vực nghiên cứu chủ đạo của Việt Nam là y sinh học và vật lý chứ không phải toán. Và cho thấy ngay “nội lực” khoa học cũng kém vì có tới 62% công trình nghiên cứu phải hợp tác với nước ngoài và vì xuất khẩu hàng hóa hi-tech ở mức thấp nhất trong vùng.
Định vị khoa học Việt Nam trên trường quốc tế
Kết quả nghiên cứu khoa học thể hiện qua số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trong những tập san chuyên ngành có bình duyệt quốc tế (peer review). Tuy có tới hơn 100.000 tập san khoa học trên toàn thế giới, chỉ có những tập san được liệt kê trong danh mục của Institute of Scientific Information (ISI) là được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Do đó, trên bình diện quốc gia, người ta dựa vào số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san thuộc thư mục ISI như là một thước đo để đánh giá và xếp hạng các nước.
Trong vài năm gần đây, nhiều người đã phân tích số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học của nước ta, so sánh với các nước trong vùng cho thấy khoa học nước ta nói chung còn kém. Từ năm 2001-2010, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 8.220 bài báo khoa học trên các tập san ISI, dù đã tăng 3,4 lần so với thập niên trước đó (1991-2000) song vẫn chỉ bằng 1/4 của Thái Lan, 1/3 Malaysia và 1/6 Singapore.
Tuy vậy, các phân tích trên chưa định vị khoa học Việt Nam trên trường quốc tế ra sao.
Để xác định vị trí của nghiên cứu khoa học trên trường quốc tế, người viết bài này sử dụng dữ liệu của ISI và SCOPUS (các thư mục khoa học quốc tế) trong thời gian 14 năm (từ 1996-2009). Có nhiều cách định vị (hay xếp hạng) khoa học, nhưng tựu trung là dựa vào số lượng và một chỉ số hỗn hợp giữa số lượng và chất lượng. Đơn giản nhất là dựa vào số lượng ấn phẩm khoa học, vì chỉ số này phản ánh khối lượng thông tin khoa học “sản xuất” của một nước.
Nhưng cách xếp hạng này có vấn đề, vì có nước công bố rất nhiều công trình khoa học nhưng chẳng ai quan tâm vì chất lượng quá thấp. Tiêu biểu cho xu hướng này là Trung Quốc: từ năm 1996-2009, Trung Quốc công bố 1,5 triệu ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, đứng thứ 2 sau Mỹ với gần 4,77 triệu bài báo khoa học, nhưng nếu dựa vào tầm ảnh hưởng thì Trung Quốc đứng hạng 10 trong số 235 nước có thể xếp hạng.
Số lượng công trình khoa học chỉ phản ánh lượng mà không phản ánh phần chất. Một nhà khoa học có thể có hàng trăm bài báo khoa học, nhưng chẳng ai trích dẫn hay quan tâm thì không thể xem là một nhà khoa học giỏi. Do đó, cách xếp hạng khách quan và hợp lý hơn là dựa vào chỉ số H (một sáng kiến của nhà vật lý học Jorge Hirsch - Đại học California San Diego). Có thể hiểu như sau: nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu, mỗi công trình được trích dẫn ít nhất 20 lần.
Cần nói thêm rằng một nhà khoa học với chỉ số H 20 là ở vào đẳng cấp giáo sư. Các nhà khoa học y sinh học, vật lý học, hóa học từng đoạt giải Nobel thường có chỉ số H trên 30. Do đó, chỉ số H “dung hòa” giữa lượng và chất trong xếp hạng khoa học của một nước (xem bảng).
Cần chuẩn mực mới và cách mạng khoa học, công nghệ
Những kết quả phân tích trên một lần nữa cho thấy khoa học Việt Nam chẳng những ở một vị trí thấp trên thế giới mà còn thấp so với các nước trong vùng. Tính chung, ta chỉ cao hơn Lào, Campuchia và Myanmar.
Cả nước hiện có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, cùng với trên 3 vạn tiến sĩ nhưng mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn, nếu nhìn theo chuẩn mực quốc tế mỗi giáo sư phải có ít nhất một bài báo khoa học mỗi năm.
Vấn đề là ở nước ta vẫn tồn tại một sự nhầm lẫn giữa bài báo khoa học và bài báo phổ thông. Chẳng hạn, gần đây báo chí nói đến một nhà khoa học có số lượng bài báo kỷ lục về rùa, nhưng tìm hiểu thì ông này chỉ có hai công trình nghiên cứu và chưa có bài nào trên một tập san quốc tế! Không ít nhà khoa học nghĩ rằng những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hay thậm chí trên báo chí phổ thông là công trình nghiên cứu! Với cách làm khoa học như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học quốc gia rất thấp so với quốc tế.
Vấn đề là cộng đồng khoa học Việt Nam chưa nhất trí tạo ra những chuẩn mực khách quan để đánh giá thành tựu một nhà khoa học. Vì thiếu một chuẩn mực khách quan nên có sự lẫn lộn giữa bài báo phổ thông, bảng tóm tắt trong hội nghị và một bài báo khoa học nghiêm chỉnh. Từ sự lẫn lộn này dẫn đến những sai lầm trong đánh giá và đề bạt các chức danh khoa học. Từ đó chúng ta có rất nhiều nhà khoa học “phổ thông”, nhưng rất ít những nhà khoa học thứ thiệt.
Theo thông lệ quốc tế, một công trình khoa học chỉ có thể xem là hoàn tất nếu kết quả công trình đó được công bố trên những tập san khoa học có bình duyệt, để người ta có thể công khai đánh giá công trình khoa học đó giá trị ra sao. Một công trình mang tiếng là nghiên cứu khoa học, tiêu nhiều triệu, thậm chí nhiều tỉ đồng (tiền thuế của dân đóng) mà không được công bố trên các tập san khoa học có bình duyệt, tức không công khai quốc tế, thì không thể xem là hoàn tất được và như vậy tác giả vẫn còn nợ người dân.
Đã đến lúc thiết lập các tiêu chuẩn để đánh giá một công trình khoa học và cần thay thế quy trình “nghiệm thu” bằng những bài báo khoa học quốc tế - cách mà Quỹ Nafosted của Bộ Khoa học - công nghệ đang áp dụng.
Những nước tiến rất nhanh trên con đường công nghiệp hóa như Hàn Quốc và Singapore đều có đặc điểm nổi bật là khoa học rất mạnh. Chỉ trong vòng 20 năm, Hàn Quốc và Singapore đã trở thành cường quốc về khoa học với nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu.
Năm 2020 được xem là thời điểm đến đích của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước của Việt Nam, tức chỉ còn chín năm. Đại hội Đảng XI mới đây nhấn mạnh đến “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”. Từ vị trí hiện nay, mục tiêu cao cả đó có thể hoàn thành được không nếu không có một cuộc cách mạng trong khoa học và công nghệ?
GS NGUYỄN VĂN TUẤN
__________
Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
(LĐXH) - Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức (Knowledge economy). Theo cách hiểu chung nhất, kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó việc sáng tạo và ứng dụng tri thức đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất ra của cải vật chất.
Còn theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh: Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải.
Theo GS.VS Đặng Hữu: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau:
1. Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao.
3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi so với nền kinh tế tri thức trước đó: Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người.
4. Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố như tài nguyên, đất đai.
5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa, có tác động sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ phát triển đã đề ra những chương trình, chiến lược nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo những đặc trưng của kinh tế tri thức. Có thể kể đến những ví dụ điển hình như: từ 1984 đến nay, mỗi năm chính phủ Mỹ chi hàng trăm tỷ USD cho hoạt động khoa học, công nghệ. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ Nhật đã dành cho chương trình vi điện tử hơn 100 tỷ USD. Những năm 90 đến nay, nước Nhật đã dành khoảng 3% tổng sản phẩm quốc dân cho hoạt động nghiên cứu và triển khai. Các nước Tây Âu cũng đẩy mạnh hoạt động vào lĩnh vực công nghệ cao, như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, điển hình là các nước Đức, Pháp, Italia, Anh, Ba Lan... Hiện nay theo số liệu của Ngân hàng thế giới, nếu xét chỉ số chi tiết và tổng hợp của kinh tế tri thức thì các nước Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng Công đều ở vị trí hàng đầu. Chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Mỹ là 9,02; Nhật Bản là 8,42; Hồng Công là 8,33. Chỉ số sáng tạo của Mỹ là cao nhất: 9,47.
Thực trạng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước khác nhau”. Gần đây nhất, Đảng ta đã xác định gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam), trong đó Đảng ta khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Như vậy có thể thấy ngay từ thời kỳ đầu, Đảng ta đã rất coi trọng việc tạo ra động lực cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, hiện nay về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế mang những dấu ấn của kinh tế nông nghiệp, đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri thức của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Chỉ số KEI của Việt Nam hiện đang là 3,51, trong đó chỉ số sáng tạo chỉ là 2,72, trong khi đó chỉ số KEI của một số nước trong khu vực là rất cao: Singapore là 8,44; Malaysia là 6,07; Thái Lan là 5,52.
Những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam mới đang ở thời kỳ hình thành
Xét phương diện những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì chúng ta thấy cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế, ngành nông nghiệp còn cao. Cơ cấu lao động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế. Trong khi đó hiện nay ở Mỹ khoảng 80% lực lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai.
Tỷ trọng các ngành trong GDP năm 2010
(Đơn vị tính: %)
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
41,1
20,6
38,3
Hiện nay, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất thấp, “đến 2020 giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam).
Sự đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực là rất thấp. Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3% GDP cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%, Singapore là 3%.
Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển dụng: năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt động, Việt Nam vẫn “khát” nhân sự có trình độ. Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con số rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều thiếu thông tin về công nghệ. Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu và Quản lý TW trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới công nghệ. Xét một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ hình thành.
Giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam đang quá độ sang kinh tế công nghiệp. Vì vậy, để tạo điều kiện và thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển cần quán triệt và thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và tri thức. Sự phát triển của khoa học, công nghệ là điều kiện cần để hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Cần đầu tư hơn nữa cho khoa học, công nghệ; tạo ra chính sách phát triển khoa học, công nghệ.
Thứ hai, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực cho kinh tế tri thức. Nghiên cứu khoa học được coi là nền tảng của tăng trưởng kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong các quá trình hình thành kinh tế tri thức. Theo một nghiên cứu mới nhất, hiện nay nếu không có gì thay đổi thì Việt Nam cần khoảng thời gian là 60 năm mới có thể theo kịp về số lượng bài báo ở thời điểm năm 2005. Việt Nam vẫn đang thiếu chuyên gia nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc tế, chất lượng lao động Việt Nam đạt 4/10 điểm (theo WEF).
Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN hướng đến việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, hướng đến kinh tế tri thức. Cần tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo, khuyến khích các chủ thể kinh tế phát huy tối đa tiềm năng của mình, trong đó nhấn mạnh các vấn đề về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, bản quyền...
Thứ tư, tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với chiều sâu. Cần kết hợp hợp lý phát triển kinh tế theo hai mô hình này, một mặt khai thác những lợi thế sẵn có về lao động, tài nguyên; mặt khác phải “đi tắt, đón đầu”, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo mô hình “hiện đại”, “rút ngắn” để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Ths. Nguyễn Trọng Tuấn
Học viện Cảnh sát Nhân dân
Còn theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh: Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải.
Theo GS.VS Đặng Hữu: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau:
1. Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao.
3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi so với nền kinh tế tri thức trước đó: Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người.
4. Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố như tài nguyên, đất đai.
5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa, có tác động sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ phát triển đã đề ra những chương trình, chiến lược nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo những đặc trưng của kinh tế tri thức. Có thể kể đến những ví dụ điển hình như: từ 1984 đến nay, mỗi năm chính phủ Mỹ chi hàng trăm tỷ USD cho hoạt động khoa học, công nghệ. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ Nhật đã dành cho chương trình vi điện tử hơn 100 tỷ USD. Những năm 90 đến nay, nước Nhật đã dành khoảng 3% tổng sản phẩm quốc dân cho hoạt động nghiên cứu và triển khai. Các nước Tây Âu cũng đẩy mạnh hoạt động vào lĩnh vực công nghệ cao, như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, điển hình là các nước Đức, Pháp, Italia, Anh, Ba Lan... Hiện nay theo số liệu của Ngân hàng thế giới, nếu xét chỉ số chi tiết và tổng hợp của kinh tế tri thức thì các nước Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng Công đều ở vị trí hàng đầu. Chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Mỹ là 9,02; Nhật Bản là 8,42; Hồng Công là 8,33. Chỉ số sáng tạo của Mỹ là cao nhất: 9,47.
Thực trạng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước khác nhau”. Gần đây nhất, Đảng ta đã xác định gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam), trong đó Đảng ta khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Như vậy có thể thấy ngay từ thời kỳ đầu, Đảng ta đã rất coi trọng việc tạo ra động lực cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, hiện nay về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế mang những dấu ấn của kinh tế nông nghiệp, đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri thức của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Chỉ số KEI của Việt Nam hiện đang là 3,51, trong đó chỉ số sáng tạo chỉ là 2,72, trong khi đó chỉ số KEI của một số nước trong khu vực là rất cao: Singapore là 8,44; Malaysia là 6,07; Thái Lan là 5,52.
Những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam mới đang ở thời kỳ hình thành
Xét phương diện những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì chúng ta thấy cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế, ngành nông nghiệp còn cao. Cơ cấu lao động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế. Trong khi đó hiện nay ở Mỹ khoảng 80% lực lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai.
Tỷ trọng các ngành trong GDP năm 2010
(Đơn vị tính: %)
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
41,1
20,6
38,3
Hiện nay, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất thấp, “đến 2020 giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam).
Sự đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực là rất thấp. Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3% GDP cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%, Singapore là 3%.
Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển dụng: năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt động, Việt Nam vẫn “khát” nhân sự có trình độ. Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con số rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều thiếu thông tin về công nghệ. Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu và Quản lý TW trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới công nghệ. Xét một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ hình thành.
Giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam đang quá độ sang kinh tế công nghiệp. Vì vậy, để tạo điều kiện và thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển cần quán triệt và thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và tri thức. Sự phát triển của khoa học, công nghệ là điều kiện cần để hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Cần đầu tư hơn nữa cho khoa học, công nghệ; tạo ra chính sách phát triển khoa học, công nghệ.
Thứ hai, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực cho kinh tế tri thức. Nghiên cứu khoa học được coi là nền tảng của tăng trưởng kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong các quá trình hình thành kinh tế tri thức. Theo một nghiên cứu mới nhất, hiện nay nếu không có gì thay đổi thì Việt Nam cần khoảng thời gian là 60 năm mới có thể theo kịp về số lượng bài báo ở thời điểm năm 2005. Việt Nam vẫn đang thiếu chuyên gia nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc tế, chất lượng lao động Việt Nam đạt 4/10 điểm (theo WEF).
Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN hướng đến việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, hướng đến kinh tế tri thức. Cần tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo, khuyến khích các chủ thể kinh tế phát huy tối đa tiềm năng của mình, trong đó nhấn mạnh các vấn đề về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, bản quyền...
Thứ tư, tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với chiều sâu. Cần kết hợp hợp lý phát triển kinh tế theo hai mô hình này, một mặt khai thác những lợi thế sẵn có về lao động, tài nguyên; mặt khác phải “đi tắt, đón đầu”, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo mô hình “hiện đại”, “rút ngắn” để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Ths. Nguyễn Trọng Tuấn
Học viện Cảnh sát Nhân dân
Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012
Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).
- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Người tham gia những hoạt động chính trị sôi nổi ngay trên đất Pháp như : tham gia hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp.
- Tháng 6 – 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi “ Bản yêu sách 8 điểm” đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và đòi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù không được chấp nhận, nhưng “ Bản yêu sách” đã gây tiếng vang lớn đối với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp. Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc từ đó được nhiều người biết đến.
- Tháng 7-1920: Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đi theo Quốc tế thứ III.
- Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua vào cuối tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường Cộng sản.
- 1921: Người sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- 1922 : Ra báo “ Le Paria” ( Người cùng khổ ) vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng.
- 1923 : Sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế Cộng sản.
- 1924 : Dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.
Ngoài ra, Người còn viết nhiều bài cho báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân và viết cuốn sách nổi tiếng “ Bản án chế độ thực dân Pháp” – đòn tấn công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân Pháp-
- Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (chủ yếu trên mặt trận tư tưởng chính trị) nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta. Thời gian này tuy chưa thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam, nhưng những tư tưởng Người truyền bá sẽ làm nền tảng tư tưởng của Đảng sau này. Đó là :
* Chủ nghĩa tư bản, đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản các nước và nhân dân các thuộc địa. Đó là mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng chính quốc và thuộc địa.
* Xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng.
* Giai cấp công nhân có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
- Tháng 6-1925 :Người thành lập “ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên” và cho xuất bản tuần báo “ Thanh niên” làm cơ quan ngôn luận của Hội.
- Tháng 7-1925 : Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng Quốc tế, lập ra “Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”, có quan hệ chặt chẽ với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
- Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày để đào tạo, bồi dưỡng cách mạng.
- Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện ở Quảng Châu sau đó đã được xuất bản thành sách “Đường Kách Mệnh”.
- Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng được cơ sở của mình ở khắp nơi. Hoạt động của Hội góp phần truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản. Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu đáo về chính trị , tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
- Giữa năm 1927-1930 : Nguyễn Ái Quốc đã từ Xiêm (Thái Lan ) về Trung Quốc, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
- Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.
=> Nói đến NAQ là nói đến con người của nhiều sáng lập, nhưng sáng lập ra ĐCSVN là sáng lập có ý nghĩa quyết định đến những thắng lợi về sau của CM nước ta
v Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).
Gồm 5 nội dung cơ bản:
Phương hướng chiến lược của CMVN: tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
Nhiệm vụ của cách mạng: tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
+ Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn
toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
+Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của đế quốc pháp để giao cho chín phủ công nông binh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,.. phổ
thông giáo dục theo công nông hoá.
-Về lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, là gốc; đồng
thời phải mở rộng rãi hơn các lực lượng khác đó là: tư sản vừa và nhỏ, trung tiểu
địa chủ.
-Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta là 1 cương lĩnh cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cơ bản của cương lĩnh này.
-Xác định mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế
giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới, phải
tranh thủ cách mạng thế giới.
- Tháng 6 – 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi “ Bản yêu sách 8 điểm” đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và đòi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù không được chấp nhận, nhưng “ Bản yêu sách” đã gây tiếng vang lớn đối với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp. Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc từ đó được nhiều người biết đến.
- Tháng 7-1920: Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đi theo Quốc tế thứ III.
- Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua vào cuối tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường Cộng sản.
- 1921: Người sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- 1922 : Ra báo “ Le Paria” ( Người cùng khổ ) vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng.
- 1923 : Sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế Cộng sản.
- 1924 : Dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.
Ngoài ra, Người còn viết nhiều bài cho báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân và viết cuốn sách nổi tiếng “ Bản án chế độ thực dân Pháp” – đòn tấn công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân Pháp-
- Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (chủ yếu trên mặt trận tư tưởng chính trị) nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta. Thời gian này tuy chưa thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam, nhưng những tư tưởng Người truyền bá sẽ làm nền tảng tư tưởng của Đảng sau này. Đó là :
* Chủ nghĩa tư bản, đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản các nước và nhân dân các thuộc địa. Đó là mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng chính quốc và thuộc địa.
* Xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng.
* Giai cấp công nhân có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
- Tháng 6-1925 :Người thành lập “ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên” và cho xuất bản tuần báo “ Thanh niên” làm cơ quan ngôn luận của Hội.
- Tháng 7-1925 : Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng Quốc tế, lập ra “Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”, có quan hệ chặt chẽ với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
- Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày để đào tạo, bồi dưỡng cách mạng.
- Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện ở Quảng Châu sau đó đã được xuất bản thành sách “Đường Kách Mệnh”.
- Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng được cơ sở của mình ở khắp nơi. Hoạt động của Hội góp phần truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản. Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu đáo về chính trị , tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
- Giữa năm 1927-1930 : Nguyễn Ái Quốc đã từ Xiêm (Thái Lan ) về Trung Quốc, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
- Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.
=> Nói đến NAQ là nói đến con người của nhiều sáng lập, nhưng sáng lập ra ĐCSVN là sáng lập có ý nghĩa quyết định đến những thắng lợi về sau của CM nước ta
v Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).
Gồm 5 nội dung cơ bản:
Phương hướng chiến lược của CMVN: tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
Nhiệm vụ của cách mạng: tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
+ Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn
toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
+Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của đế quốc pháp để giao cho chín phủ công nông binh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,.. phổ
thông giáo dục theo công nông hoá.
-Về lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, là gốc; đồng
thời phải mở rộng rãi hơn các lực lượng khác đó là: tư sản vừa và nhỏ, trung tiểu
địa chủ.
-Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta là 1 cương lĩnh cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cơ bản của cương lĩnh này.
-Xác định mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế
giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới, phải
tranh thủ cách mạng thế giới.
SỰ GIỐNG NHAU, KHÁC NHAU GIỮA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC SO VỚI CÁC CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC KHÁC TRƯỚC KHI THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Sự lạc hậu, kém phát triển của nước Việt Nam đã khiến cho quốc gia này không đủ sức mạnh duy trì, phát triển các quyền dân tộc, quyền con người. Hậu quả là, cuối thế kỷ XIX, nước Việt Nam mất độc lập, đại bộ phận nhân dân Việt Nam lầm than, cơ cực, mất tự do. Chính quyền đại diện cho người Việt Nam trong hệ thống chính trị thuộc địa nửa phong kiến đã không làm đúng chức năng đảm bảo an toàn và hạnh phúc cho người dân. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải tìm ra con đường cứu nước, thực hiện được giải phóng dân tộc, giải phóng con người, phải thiết lập được chính quyền đảm bảo tốt nhất sự an toàn và hạnh phúc của Nhân dân.
Trước thách thức của lịch sử, nhân dân Việt Nam đã tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng nhiều phong trào đấu tranh theo những con đường cứu nước khác nhau.
Bài viết này sẽ khảo sát các phong trào yêu nước từ khi Pháp xâm lược cho tới trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để rút ra các đặc điểm con đường cứu nước, trên cơ sở đó, đối sánh với con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc để tìm ra các điểm giống và khác nhau.
**************
I. Các con đường cứu nước khác con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
I.1 Những phong trào cách mạng tiêu biểu:
* Trương Định và lá cờ “Bình Tây đại nguyên soái”. Những tên tuổi như Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Trị, Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Tôn, Phàn Liêm… đã trở thành biểu tượng sáng ngời về tinh thần quả cảm trong chiến đấu ở Nam Kì.
* Tư tưởng canh tân ở Việt Nam dưới triều Nguyễn (nửa sau thế kỉ XIX) gắn với các tên tuổi như Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Đặng Huy Trứ (1825-1874), Phạm Phú Thứ (1821-1882)….
* Cuộc tấn công quân Pháp ở Huế tháng 7-1885 và Phong trào Cần Vương (1885-1896). Phong trào bắt đầu bằng sự kiện vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương 13-7-1885 và nhanh chóng phát triển ra nhiều địa phương ở Bắc-Trung-Nam Kỳ.
* Khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884, đánh thắng nhiều trận, tạo tiếng vang lớn và gây cho pháp nhiều thiệt hại nhưng chỉ kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt.
* Phan Bội Châu với phong trào Đông Du
* Phan Chu Trinh và phong trào Duy Tân
* Phong trào chống sưu thuế ở Trung Kì 1908
* Đông Kinh Nghĩa Thục
* Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội
* Lương Ngọc Quyến với cuộc khởi nghĩa binh lính Thái Nguyên
* Một số cuộc khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào các dân tộc ít người: cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tây Bắc (11/1914 – 3/1916), cuộc khởi nghĩa của đồng bào H’Mông ở Lai Châu (1918-1921), cuộc khởi nghĩa của binh lính đồn Bình Liêu (16-11-1918), các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên (tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là cuộc khởi nghĩa của người Mơ nông do N’Trang Lơng lãnh đạo.
* Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản (Phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều 1919, Đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn 1923), phong trào đấu tranh tiểu tư sản: từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phải ra đời: Đảng Lập hiến (1923), Đảng Thanh niên (3-1926); Đảng Thanh niên cao vọng (1926); Việt Nam nghĩa đoàn (1925), sau đổi tên thành Tân Việt cách mạng Đảng (7-1928); Việt Nam Quốc dân Đảng (12-1927). Các đảng phái chính trị và tiểu tư sản trên đây đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp, đặc biệt là Tân Việt Cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng…
* Một số phong trào yêu nước đòi tự do dân chủ tiêu biểu trong những năm 1919-1925: Phạm Hồng Thái và vụ mưu sát Toàn quyền Merlin, phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội ChâuPhóng trào đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh, phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh
* Việt Nam Quốc dân đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái
I.2 Nhận xét:
Con đường cứu nước Việt Nam nói trên thể hiện qua: con đường canh tân, con đường theo khuynh hướng phong kiến và con đường theo khuynh hướng tư sản.
* Con đường canh tân ở Việt Nam dưới triều Nguyễn trước nguy cơ và sự xâm lược của Pháp: hầu hết đều xuất phát từ tinh thần yêu nước, muốn cho nước nhà giàu mạnh, có thể đương đầu với sự tấn công ngày càng dồn dập của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Trong hoàn cảnh bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam hồi đó, theo các nhà canh tân, lối thoát duy nhất cho Việt Nam là mạnh dạn đi theo con đường phát triển của Chủ nghĩa tư bản. Nhưng những đề nghị cải cách có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, nặng về chịu ảnh hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở bên trong, chưa động chạm đến vấn đề cơ bản của thời đại là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội Việt Nam bấy giờ là giữa nhân dân ta với thực dân Pháp xâm lược và giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Đứng trước nguy cơ mất nước, các nhà cải cách duy tân việt Nam bấy giờ chỉ biết chộp lấy mô hình của các xã hội phát triển ở bên ngoài đem vào áp dụng ở nước ta, ít ai nghĩ rằng cần phải có những hậu thuẫn về mặt xã hội làm cơ sở vật chất bên trong thì các chương trình cải cách mới có thể thực hiện thành công được. Chính vì ra đời tìm nhu cầu cách tân vội vàng, cấp thiết để cứu vãn nền độc lập của đất nước, mà khi quốc gia mất độc lập thì trào lưu cải cách duy tân cũng chấm dứt luôn sự tồn tại của chính mình – sự thất bại đó là điều không tránh khỏi.
* Đặc điểm con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
- Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi, và đạt được kết quả ở những mức độ khác nhau.
- Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau. Các phong trào hướng tới hoặc khôi phục chế độ phong kiến hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế độ cộng hòa tư sản.
- Phương thức và biện pháp tiến hành khác nhau: bạo động hoặc cải cách; quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau: dựa vào Pháp để thực hiện cải cách, hoặc dựa vào ngoại viện đánh Pháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.
- Một số tổ chức theo lập trường quốc gia tư sản ra đời đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản là công nhân và nông dân, nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.
=> Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, một giai cấp đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
=> Mặc dù thất bại nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu nước kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của phong trào yêu nước là cơ sở xã hội thuận lợi cho sự tiếp biến con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam và là một trong những nhân tố đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản.
II. Đặc điểm, nội dung con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc tính đến khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin một con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp chân chính, từ năm 1920 đến 19230 Nguyễn Ái Quốc đã dồn toàn bộ sức lực và trí tuệ cho việc tiếp thu, phát triển đúng đắn sáng tạo và hoàn thiện con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc, tính đến thời điểm năm 1930, thể hiện qua các hoạt động cách mạng của Người (tham gia và trực tiếp sáng lập nhiều tổ chức chính trị cách mạng, viết báo, viết sách…). Nhưng thể hiện rõ rệt nhất là qua sách “Đường Kách mệnh” và qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và điều lệ tóm tắt mà Người trực tiếp khởi thảo và được thông qua trong Hội nghị Thành lập Đảng (02/1930). Đây cũng là những văn kiện lịch sử quan trọng của Đảng ta, trong đó nêu lên những vấn đề thuộc về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Những hoạt động trên của Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra và chỉ rõ con đuờng của cách mạng Việt Nam với nội dung chính là:
1. Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa.
2. Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng. Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, từ Công xã Pa ri năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước bục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”. Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh “Làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước kia.
Cách mạng vô sản có hai bộ phận là cách mạng vô sản chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa. Cách mạng phương Đông là bộ phận của cách mạng giải phóng dân tộc thế giới, giải phóng con người, giải phóng giai cấp công nhân, thiết lập chủ nghĩa xã hội. “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng trên thế giới là đồng chí của Việt Nam”. Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa. Việt Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại khẩu hiệu của Quốc tế thứ ba “giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại”. Đây là những quan điểm cơ bản về đoàn kết quốc tế mà Nguyễn Ái Quốc đã viết trong nhiều tác phẩm và Người thực hiện ngay từ khi gia nhập phong trào cộng sản quốc tế. Trong quan hệ giữa cách mạng nước ta với bầu bạn thế giới, Nguyễn Ái Quốc chú ý hai điều: 1- Muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã. 2- Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động giành thắng lợi, không ỷ lại, chờ đợi thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Đó cũng là bài học đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của cách mạng nước ta từ khi Đảng lãnh đạo.
3. Người xác định mối quan hệ của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc” và vị trí của nó. Cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và cách mạng vô sản “chính quốc” có quan hệ khăng khít với nhau và chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa hai vò một vòi hut máu giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính quốc còn một vòi hút máu các dân tộc thuộc địa. Muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc thì phải cắt cả hai vòi ấy. Phải thực hịên sự liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và “chính quốc”. Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng “chính quốc” mà có tính chủ động, độc lập và có thể thành công trước và thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên.
Người đã giải quyết đúng đắn sáng tạo mối quan hệ giữa cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng ruộng đất (thổ địa cách mạng), giữa chống đế quốc với chống phong kiến, giữa nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ dân tộc để tiến lên xã hội cộng sản. Những nhiệm vụ của cách mạng luôn bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc, chống phong kiến, song nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc.
4. Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là xã hội cộng sản, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự đo, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.
5. Người xác định lực lượng cách mạng. Công nông là người chủ cách mệnh, gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. “Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng, chứ không phải là việc của một hai người. Quần chúng cần phải được giác ngộ và tổ chức thành đội ngũ vững bền; đuợc hiểu biết tình thế có mưu trước.
6. Phải có phưong pháp cách mạng đúng đắn, phải có mưu trước. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc “to tát”, cho nên phải “dùng hết sức”, phải quyết tâm làm thì chắc được “thà chết tự do hơn sống làm nô lệ”. Nhưng phải “biết cách làm thì mới chóng”. “Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ”. Tiếp theo tư tưởng khởi nghĩa vũ trang quần chúng giành chính quyền đề ra từ năm 1924, trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc phát triển thêm:“dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”. “Đời này làm chưa xong, đời sau nối theo làm thì phải xong”. Về phương pháp cách mạng, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm cách mạng bạo lực. Người chỉ ra những thiếu sót của những người đi trước như “xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức”, hoặc “làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cường”. Tóm lại là phải có sách lược, mưu chước, kế hoạch, biết lúc nào nên làm, lúc nào chưa nên làm.
7. Người cho rằng phải thực hiện đoàn kết quốc tế. Phải thực hiện sự liên minh, đoàn kết với các lực lượng cách mạng quốc tế, phải nâng cao tính chủ động cách mạng, ý thức tự lực tự cường. Điều này sẽ tạo cho cách mạng Việt Nam sức mạnh to lớn, cho phép kết hợp yếu tố dân tộc và thời đại, truyền thống và hiện đại.
8. Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh và học thuyết cách mệnh. Đảng không có chủ nghĩa như người không có trí khôn. Ngay từ khi tìm được chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nắm vững quy luật, Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Muốn cho Đảng vững phải làm cho trong Đảng ai cũng hiểu, ai cũng theo tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin, phải biết vận dụng đúng đắn học thuyết đó vào hoàn cảnh Việt Nam. Điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và trải qua tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng.
Tóm lại, tám điểm trên đây là tư tưởng cốt lõi con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Không những Nguyễn Ái Quốc nắm vững thực chất chủ nghĩa Mác – Lê nin, mà ngay từ đầu đã biết vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm cách mạng nước mình. Những nội dung trên thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Nó hướng cách mạng Việt Nam đi đúng vào quỹ đạo cách mạng vô sản, đặt cơ sở cho việc hình thành một cương lĩnh chính trị đúng đắn, cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu những năm 1930.
III. So sánh con đường cứu nước con đường cứu nước của nguyễn ái quốc so với các con đường cứu nước khác trước khi thành lập Đảng
Trước hết, xét về đường lối đấu tranh cách mạng, trước năm 1930, phong trào cách mạng Việt Nam hoặc là đi theo con đường phong kiến hoặc là đi theo con đường dân chủ tư sản. Những tư tưởng này đều đã trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc đã chỉ ra con đường cách mạng vô sản, trong đó bao gồm giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền, thổ địa cách mạng và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối này đã phản ánh đúng đắn những mâu thuẫn trong xã hội nước ta lúc bấy giờ. Do đó, cuộc khủng hoảng chính trị về chiến lược cách mạng Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt.
Tiếp theo, các phong trào đấu tranh cách mạng ở nước ta trước năm 1930 do các tầng lớp giai cấp không phải là vô sản lãnh đạo, giai cấp công nhân khi đó vẫn còn dừng ở trình độ đấu tranh tự phát. Phong trào công nhân trở thành một bộ phận nằm trong phong trào chung của cả nước. Với con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc, giai cấp công nhân nước ta đã hoàn thành quá trình chuyển biến từ tự phát sang tự giác. Giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập nắm giữ sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam.
Về lực lượng cách mạng, các phong trào đấu tranh cách mạng có trước năm 1930 đều hô hào quần chúng nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc nhưng đã bỏ quên nhiệm vụ chống phong kiến. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã giương cao và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai ngọn cờ độc lập dân tộc (chống đế quốc), người cày có ruộng (chống phong kiến). Con đường này đã đáp ứng được đúng đắn yêu cầu khách quan của lịch sử, đã nhận rõ sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân trong cách mạng. Đồng thời, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã xác định đúng lực lượng cách mạng rằng lực lượng cách mạng gồm toàn thể dân tộc, trong liên minh công nhân – nông dân – trí thức là nòng cốt, công nhân và nông dân là động lực của cách mạng Việt Nam.
Về phương pháp đấu tranh cách mạng, trước năm 1930 đã xuất hiện những phong trào đấu tranh cách mạng sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang như các cuộc khởi nghĩa trong Phong trào Cần Vương hay chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, nhưng những tư tưởng phong kiến thì hạn chế ở tư tưởng thụ động phòng ngự, còn tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu thì lại sai lầm về quan điểm chính trị khi ông chủ trương nhờ cậy vào sự giúp đỡ của người Nhật để đánh Pháp. Ngoài ra, còn có phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh tổ chức thì lại chủ trương trông cậy vào lòng tốt, vào sự nhân nhượng của thực dân Pháp. Những hạn chế sai lầm về phương pháp đấu tranh cách mạng đã đưa đến sự thất bại không thể tránh khỏi của phong trào. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra phương pháp tiến hành cách mạng đúng đắn. Đó là tư tưởng bạo lực cách mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân lao động, sử dụng kết hợp cả hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
Đồng minh, sức mạnh tổng hợp của cách mạng, trước năm 1930, các phong trào đấu tranh ở nước ta đều bị hạn chế ở phạm vi và quy mô. Các cuộc khởi nghĩa trong Phong trào Cần Vương chỉ diễn ra ở một địa phương hoặc một vài địa phương. Đến các Phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân theo khuynh hướng dân chủ tư sản thì cũng bị đóng khung trong phạm vi dân tộc. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Như vậy, con đường này đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam những người đồng minh mới, giúp cách mạng nước ta có được sức mạnh tổng hợp, to lớn để tiến hành cuộc đấu tranh và giành thắng lợi.
Tư tưởng cốt lõi của con đường cách mạng Hồ Chí Minh là tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản bằng lực lượng yêu nước của toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công – nông và dưới sự lãnh đạo của đảng. Con đường cứu nước đó đã phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm đượm tinh thần dân tộc vì độc lập tự do.
Như vậy, có thể thầy rằng, dù có điểm chung với các con đường cứu nước khác: 1- đều là người yêu nước, khao khát tìm tòi khảo nghiệm để tìm ra một con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động; 2- đều có xu hướng tìm đường cứu nước kể cả bên trong và bên ngoài; 3-liên hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; 4- muốn cứu nước thì phải có tổ chức; 5- tập hợp được một lực lượng nhất định…nhưng con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vẫn có nhiều điểm khác cơ bản như trên.
*****************
Từ những nội dung trên và thực tiễn lịch sử Việt Nam đã cho thấy: con đường cách mạng Nguyễn Ái Quốc là con đường phù hợp, đúng đắn, sáng tạo với Việt Nam, đã kế thừa những kinh nghiệm và bài học xương máu từ các con đường cách mạng khác, khắc phục những hạn chế của các con đường cách mạng không triệt để ở trong nước và thế giới. Từ đây, thời kỳ đấu tranh đi liền với thất bại đã khép lại, thời kỳ đấu tranh đi liền với thắng lợi lớn đã mở ra. Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc chính là đường đi đến độc lập cho Tổ quốc, ấm no tự do hạnh phúc cho Nhân dân.
Ngoài ra, chúng ta cần thấy rằng, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc không chỉ thể hiện sự đúng đắn sáng tạo so với các con đường cứu nước khác ở Việt Nam mà còn thể hiện bản lĩnh của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khi đặt ra vấn đề “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó”, kết hợp với nhiều yếu tố khác để đưa tới Lý luận giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, đem lại tính chủ động, độc lập, sáng tạo cũng như thành công của Cách mạng Việt Nam./.
TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
Sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã được Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu và khẳng định nó không giống như trong xã hội tư bản phương Tây. Dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh của dân tộc chống chủ nghĩa thực dân. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được”1.
Có thể lập một bảng so sánh như sau:
Vấn đề so sánh Xã hội phương Tây Xã hội phương Đông
Mâu thuẫn chủ yếu Vô sản với tư sản Dân tộc bị áp bức với đế quốc xâm lược
Tính chất xã hội Tư bản chủ nghĩa Thuộc địa
Tính chất cuộc đấu tranh Giai cấp Dân tộc
Tính chất cách mạng Vô sản Giải phóng dân tộc
Hình thức chính quyền Chuyên chính vô sản Cộng hoà dân chủ
Quan điểm, lập trường của của giai cấp vô sản thể hiện ở sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích thực tiễn xã hội thuộc địa một cách chính xác, nhằm xác định chiến lược cách mạng đúng đắn.
Cũng cần nói thêm rằng: chống đế quốc trước hết và chủ yếu cũng là quyền lợi cao nhất của nông dân, bởi vì nông dân chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong dân tộc. Thực dân Pháp xâm lược, thống trị dân tộc Việt Nam thì chủ yếu là thống trị và bóc lột nông dân. Họ là nạn nhân số một của các chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất. Hàng ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chứng tỏ hùng hồn rằng: nông dân Việt Nam luôn đặt yêu cầu chống ngoại xâm cao hơn yêu cầu về quyền lợi ruộng đất.
Khi mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với đế quốc xâm lược, thì đương nhiên nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Đó là điều khác biệt với tình hình các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây (có mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản và cuộc đấu tranh giai cấp ở đây diễn ra rất quyết liệt). Như vậy, nhấn mạnh cuộc đấu tranh dân tộc là phù hợp với yêu cầu thực tiễn của cách mạng thuộc địa, còn nhấn mạnh đấu tranh giai cấp là không phù hợp, là sai lầm “tả” khuynh, giáo điều.
(PGS.TS Vũ Quang Hiển – ĐHQGHN, Tạp chí Lịch sử Đảng)
Trước thách thức của lịch sử, nhân dân Việt Nam đã tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng nhiều phong trào đấu tranh theo những con đường cứu nước khác nhau.
Bài viết này sẽ khảo sát các phong trào yêu nước từ khi Pháp xâm lược cho tới trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để rút ra các đặc điểm con đường cứu nước, trên cơ sở đó, đối sánh với con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc để tìm ra các điểm giống và khác nhau.
**************
I. Các con đường cứu nước khác con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
I.1 Những phong trào cách mạng tiêu biểu:
* Trương Định và lá cờ “Bình Tây đại nguyên soái”. Những tên tuổi như Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Trị, Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Tôn, Phàn Liêm… đã trở thành biểu tượng sáng ngời về tinh thần quả cảm trong chiến đấu ở Nam Kì.
* Tư tưởng canh tân ở Việt Nam dưới triều Nguyễn (nửa sau thế kỉ XIX) gắn với các tên tuổi như Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Đặng Huy Trứ (1825-1874), Phạm Phú Thứ (1821-1882)….
* Cuộc tấn công quân Pháp ở Huế tháng 7-1885 và Phong trào Cần Vương (1885-1896). Phong trào bắt đầu bằng sự kiện vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương 13-7-1885 và nhanh chóng phát triển ra nhiều địa phương ở Bắc-Trung-Nam Kỳ.
* Khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884, đánh thắng nhiều trận, tạo tiếng vang lớn và gây cho pháp nhiều thiệt hại nhưng chỉ kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt.
* Phan Bội Châu với phong trào Đông Du
* Phan Chu Trinh và phong trào Duy Tân
* Phong trào chống sưu thuế ở Trung Kì 1908
* Đông Kinh Nghĩa Thục
* Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội
* Lương Ngọc Quyến với cuộc khởi nghĩa binh lính Thái Nguyên
* Một số cuộc khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào các dân tộc ít người: cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tây Bắc (11/1914 – 3/1916), cuộc khởi nghĩa của đồng bào H’Mông ở Lai Châu (1918-1921), cuộc khởi nghĩa của binh lính đồn Bình Liêu (16-11-1918), các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên (tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là cuộc khởi nghĩa của người Mơ nông do N’Trang Lơng lãnh đạo.
* Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản (Phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều 1919, Đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn 1923), phong trào đấu tranh tiểu tư sản: từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phải ra đời: Đảng Lập hiến (1923), Đảng Thanh niên (3-1926); Đảng Thanh niên cao vọng (1926); Việt Nam nghĩa đoàn (1925), sau đổi tên thành Tân Việt cách mạng Đảng (7-1928); Việt Nam Quốc dân Đảng (12-1927). Các đảng phái chính trị và tiểu tư sản trên đây đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp, đặc biệt là Tân Việt Cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng…
* Một số phong trào yêu nước đòi tự do dân chủ tiêu biểu trong những năm 1919-1925: Phạm Hồng Thái và vụ mưu sát Toàn quyền Merlin, phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội ChâuPhóng trào đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh, phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh
* Việt Nam Quốc dân đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái
I.2 Nhận xét:
Con đường cứu nước Việt Nam nói trên thể hiện qua: con đường canh tân, con đường theo khuynh hướng phong kiến và con đường theo khuynh hướng tư sản.
* Con đường canh tân ở Việt Nam dưới triều Nguyễn trước nguy cơ và sự xâm lược của Pháp: hầu hết đều xuất phát từ tinh thần yêu nước, muốn cho nước nhà giàu mạnh, có thể đương đầu với sự tấn công ngày càng dồn dập của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Trong hoàn cảnh bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam hồi đó, theo các nhà canh tân, lối thoát duy nhất cho Việt Nam là mạnh dạn đi theo con đường phát triển của Chủ nghĩa tư bản. Nhưng những đề nghị cải cách có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, nặng về chịu ảnh hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở bên trong, chưa động chạm đến vấn đề cơ bản của thời đại là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội Việt Nam bấy giờ là giữa nhân dân ta với thực dân Pháp xâm lược và giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Đứng trước nguy cơ mất nước, các nhà cải cách duy tân việt Nam bấy giờ chỉ biết chộp lấy mô hình của các xã hội phát triển ở bên ngoài đem vào áp dụng ở nước ta, ít ai nghĩ rằng cần phải có những hậu thuẫn về mặt xã hội làm cơ sở vật chất bên trong thì các chương trình cải cách mới có thể thực hiện thành công được. Chính vì ra đời tìm nhu cầu cách tân vội vàng, cấp thiết để cứu vãn nền độc lập của đất nước, mà khi quốc gia mất độc lập thì trào lưu cải cách duy tân cũng chấm dứt luôn sự tồn tại của chính mình – sự thất bại đó là điều không tránh khỏi.
* Đặc điểm con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
- Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi, và đạt được kết quả ở những mức độ khác nhau.
- Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau. Các phong trào hướng tới hoặc khôi phục chế độ phong kiến hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế độ cộng hòa tư sản.
- Phương thức và biện pháp tiến hành khác nhau: bạo động hoặc cải cách; quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau: dựa vào Pháp để thực hiện cải cách, hoặc dựa vào ngoại viện đánh Pháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.
- Một số tổ chức theo lập trường quốc gia tư sản ra đời đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản là công nhân và nông dân, nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.
=> Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, một giai cấp đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
=> Mặc dù thất bại nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu nước kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của phong trào yêu nước là cơ sở xã hội thuận lợi cho sự tiếp biến con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam và là một trong những nhân tố đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản.
II. Đặc điểm, nội dung con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc tính đến khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin một con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp chân chính, từ năm 1920 đến 19230 Nguyễn Ái Quốc đã dồn toàn bộ sức lực và trí tuệ cho việc tiếp thu, phát triển đúng đắn sáng tạo và hoàn thiện con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc, tính đến thời điểm năm 1930, thể hiện qua các hoạt động cách mạng của Người (tham gia và trực tiếp sáng lập nhiều tổ chức chính trị cách mạng, viết báo, viết sách…). Nhưng thể hiện rõ rệt nhất là qua sách “Đường Kách mệnh” và qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và điều lệ tóm tắt mà Người trực tiếp khởi thảo và được thông qua trong Hội nghị Thành lập Đảng (02/1930). Đây cũng là những văn kiện lịch sử quan trọng của Đảng ta, trong đó nêu lên những vấn đề thuộc về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Những hoạt động trên của Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra và chỉ rõ con đuờng của cách mạng Việt Nam với nội dung chính là:
1. Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa.
2. Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng. Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, từ Công xã Pa ri năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước bục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”. Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh “Làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước kia.
Cách mạng vô sản có hai bộ phận là cách mạng vô sản chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa. Cách mạng phương Đông là bộ phận của cách mạng giải phóng dân tộc thế giới, giải phóng con người, giải phóng giai cấp công nhân, thiết lập chủ nghĩa xã hội. “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng trên thế giới là đồng chí của Việt Nam”. Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa. Việt Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại khẩu hiệu của Quốc tế thứ ba “giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại”. Đây là những quan điểm cơ bản về đoàn kết quốc tế mà Nguyễn Ái Quốc đã viết trong nhiều tác phẩm và Người thực hiện ngay từ khi gia nhập phong trào cộng sản quốc tế. Trong quan hệ giữa cách mạng nước ta với bầu bạn thế giới, Nguyễn Ái Quốc chú ý hai điều: 1- Muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã. 2- Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động giành thắng lợi, không ỷ lại, chờ đợi thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Đó cũng là bài học đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của cách mạng nước ta từ khi Đảng lãnh đạo.
3. Người xác định mối quan hệ của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc” và vị trí của nó. Cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và cách mạng vô sản “chính quốc” có quan hệ khăng khít với nhau và chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa hai vò một vòi hut máu giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính quốc còn một vòi hút máu các dân tộc thuộc địa. Muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc thì phải cắt cả hai vòi ấy. Phải thực hịên sự liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và “chính quốc”. Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng “chính quốc” mà có tính chủ động, độc lập và có thể thành công trước và thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên.
Người đã giải quyết đúng đắn sáng tạo mối quan hệ giữa cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng ruộng đất (thổ địa cách mạng), giữa chống đế quốc với chống phong kiến, giữa nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ dân tộc để tiến lên xã hội cộng sản. Những nhiệm vụ của cách mạng luôn bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc, chống phong kiến, song nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc.
4. Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là xã hội cộng sản, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự đo, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.
5. Người xác định lực lượng cách mạng. Công nông là người chủ cách mệnh, gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. “Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng, chứ không phải là việc của một hai người. Quần chúng cần phải được giác ngộ và tổ chức thành đội ngũ vững bền; đuợc hiểu biết tình thế có mưu trước.
6. Phải có phưong pháp cách mạng đúng đắn, phải có mưu trước. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc “to tát”, cho nên phải “dùng hết sức”, phải quyết tâm làm thì chắc được “thà chết tự do hơn sống làm nô lệ”. Nhưng phải “biết cách làm thì mới chóng”. “Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ”. Tiếp theo tư tưởng khởi nghĩa vũ trang quần chúng giành chính quyền đề ra từ năm 1924, trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc phát triển thêm:“dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”. “Đời này làm chưa xong, đời sau nối theo làm thì phải xong”. Về phương pháp cách mạng, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm cách mạng bạo lực. Người chỉ ra những thiếu sót của những người đi trước như “xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức”, hoặc “làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cường”. Tóm lại là phải có sách lược, mưu chước, kế hoạch, biết lúc nào nên làm, lúc nào chưa nên làm.
7. Người cho rằng phải thực hiện đoàn kết quốc tế. Phải thực hiện sự liên minh, đoàn kết với các lực lượng cách mạng quốc tế, phải nâng cao tính chủ động cách mạng, ý thức tự lực tự cường. Điều này sẽ tạo cho cách mạng Việt Nam sức mạnh to lớn, cho phép kết hợp yếu tố dân tộc và thời đại, truyền thống và hiện đại.
8. Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh và học thuyết cách mệnh. Đảng không có chủ nghĩa như người không có trí khôn. Ngay từ khi tìm được chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nắm vững quy luật, Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Muốn cho Đảng vững phải làm cho trong Đảng ai cũng hiểu, ai cũng theo tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin, phải biết vận dụng đúng đắn học thuyết đó vào hoàn cảnh Việt Nam. Điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và trải qua tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng.
Tóm lại, tám điểm trên đây là tư tưởng cốt lõi con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Không những Nguyễn Ái Quốc nắm vững thực chất chủ nghĩa Mác – Lê nin, mà ngay từ đầu đã biết vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm cách mạng nước mình. Những nội dung trên thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Nó hướng cách mạng Việt Nam đi đúng vào quỹ đạo cách mạng vô sản, đặt cơ sở cho việc hình thành một cương lĩnh chính trị đúng đắn, cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu những năm 1930.
III. So sánh con đường cứu nước con đường cứu nước của nguyễn ái quốc so với các con đường cứu nước khác trước khi thành lập Đảng
Trước hết, xét về đường lối đấu tranh cách mạng, trước năm 1930, phong trào cách mạng Việt Nam hoặc là đi theo con đường phong kiến hoặc là đi theo con đường dân chủ tư sản. Những tư tưởng này đều đã trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc đã chỉ ra con đường cách mạng vô sản, trong đó bao gồm giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền, thổ địa cách mạng và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối này đã phản ánh đúng đắn những mâu thuẫn trong xã hội nước ta lúc bấy giờ. Do đó, cuộc khủng hoảng chính trị về chiến lược cách mạng Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt.
Tiếp theo, các phong trào đấu tranh cách mạng ở nước ta trước năm 1930 do các tầng lớp giai cấp không phải là vô sản lãnh đạo, giai cấp công nhân khi đó vẫn còn dừng ở trình độ đấu tranh tự phát. Phong trào công nhân trở thành một bộ phận nằm trong phong trào chung của cả nước. Với con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc, giai cấp công nhân nước ta đã hoàn thành quá trình chuyển biến từ tự phát sang tự giác. Giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập nắm giữ sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam.
Về lực lượng cách mạng, các phong trào đấu tranh cách mạng có trước năm 1930 đều hô hào quần chúng nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc nhưng đã bỏ quên nhiệm vụ chống phong kiến. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã giương cao và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai ngọn cờ độc lập dân tộc (chống đế quốc), người cày có ruộng (chống phong kiến). Con đường này đã đáp ứng được đúng đắn yêu cầu khách quan của lịch sử, đã nhận rõ sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân trong cách mạng. Đồng thời, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã xác định đúng lực lượng cách mạng rằng lực lượng cách mạng gồm toàn thể dân tộc, trong liên minh công nhân – nông dân – trí thức là nòng cốt, công nhân và nông dân là động lực của cách mạng Việt Nam.
Về phương pháp đấu tranh cách mạng, trước năm 1930 đã xuất hiện những phong trào đấu tranh cách mạng sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang như các cuộc khởi nghĩa trong Phong trào Cần Vương hay chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, nhưng những tư tưởng phong kiến thì hạn chế ở tư tưởng thụ động phòng ngự, còn tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu thì lại sai lầm về quan điểm chính trị khi ông chủ trương nhờ cậy vào sự giúp đỡ của người Nhật để đánh Pháp. Ngoài ra, còn có phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh tổ chức thì lại chủ trương trông cậy vào lòng tốt, vào sự nhân nhượng của thực dân Pháp. Những hạn chế sai lầm về phương pháp đấu tranh cách mạng đã đưa đến sự thất bại không thể tránh khỏi của phong trào. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra phương pháp tiến hành cách mạng đúng đắn. Đó là tư tưởng bạo lực cách mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân lao động, sử dụng kết hợp cả hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
Đồng minh, sức mạnh tổng hợp của cách mạng, trước năm 1930, các phong trào đấu tranh ở nước ta đều bị hạn chế ở phạm vi và quy mô. Các cuộc khởi nghĩa trong Phong trào Cần Vương chỉ diễn ra ở một địa phương hoặc một vài địa phương. Đến các Phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân theo khuynh hướng dân chủ tư sản thì cũng bị đóng khung trong phạm vi dân tộc. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Như vậy, con đường này đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam những người đồng minh mới, giúp cách mạng nước ta có được sức mạnh tổng hợp, to lớn để tiến hành cuộc đấu tranh và giành thắng lợi.
Tư tưởng cốt lõi của con đường cách mạng Hồ Chí Minh là tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản bằng lực lượng yêu nước của toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công – nông và dưới sự lãnh đạo của đảng. Con đường cứu nước đó đã phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm đượm tinh thần dân tộc vì độc lập tự do.
Như vậy, có thể thầy rằng, dù có điểm chung với các con đường cứu nước khác: 1- đều là người yêu nước, khao khát tìm tòi khảo nghiệm để tìm ra một con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động; 2- đều có xu hướng tìm đường cứu nước kể cả bên trong và bên ngoài; 3-liên hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; 4- muốn cứu nước thì phải có tổ chức; 5- tập hợp được một lực lượng nhất định…nhưng con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vẫn có nhiều điểm khác cơ bản như trên.
*****************
Từ những nội dung trên và thực tiễn lịch sử Việt Nam đã cho thấy: con đường cách mạng Nguyễn Ái Quốc là con đường phù hợp, đúng đắn, sáng tạo với Việt Nam, đã kế thừa những kinh nghiệm và bài học xương máu từ các con đường cách mạng khác, khắc phục những hạn chế của các con đường cách mạng không triệt để ở trong nước và thế giới. Từ đây, thời kỳ đấu tranh đi liền với thất bại đã khép lại, thời kỳ đấu tranh đi liền với thắng lợi lớn đã mở ra. Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc chính là đường đi đến độc lập cho Tổ quốc, ấm no tự do hạnh phúc cho Nhân dân.
Ngoài ra, chúng ta cần thấy rằng, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc không chỉ thể hiện sự đúng đắn sáng tạo so với các con đường cứu nước khác ở Việt Nam mà còn thể hiện bản lĩnh của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khi đặt ra vấn đề “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó”, kết hợp với nhiều yếu tố khác để đưa tới Lý luận giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, đem lại tính chủ động, độc lập, sáng tạo cũng như thành công của Cách mạng Việt Nam./.
TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
Sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã được Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu và khẳng định nó không giống như trong xã hội tư bản phương Tây. Dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh của dân tộc chống chủ nghĩa thực dân. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được”1.
Có thể lập một bảng so sánh như sau:
Vấn đề so sánh Xã hội phương Tây Xã hội phương Đông
Mâu thuẫn chủ yếu Vô sản với tư sản Dân tộc bị áp bức với đế quốc xâm lược
Tính chất xã hội Tư bản chủ nghĩa Thuộc địa
Tính chất cuộc đấu tranh Giai cấp Dân tộc
Tính chất cách mạng Vô sản Giải phóng dân tộc
Hình thức chính quyền Chuyên chính vô sản Cộng hoà dân chủ
Quan điểm, lập trường của của giai cấp vô sản thể hiện ở sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích thực tiễn xã hội thuộc địa một cách chính xác, nhằm xác định chiến lược cách mạng đúng đắn.
Cũng cần nói thêm rằng: chống đế quốc trước hết và chủ yếu cũng là quyền lợi cao nhất của nông dân, bởi vì nông dân chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong dân tộc. Thực dân Pháp xâm lược, thống trị dân tộc Việt Nam thì chủ yếu là thống trị và bóc lột nông dân. Họ là nạn nhân số một của các chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất. Hàng ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chứng tỏ hùng hồn rằng: nông dân Việt Nam luôn đặt yêu cầu chống ngoại xâm cao hơn yêu cầu về quyền lợi ruộng đất.
Khi mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với đế quốc xâm lược, thì đương nhiên nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Đó là điều khác biệt với tình hình các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây (có mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản và cuộc đấu tranh giai cấp ở đây diễn ra rất quyết liệt). Như vậy, nhấn mạnh cuộc đấu tranh dân tộc là phù hợp với yêu cầu thực tiễn của cách mạng thuộc địa, còn nhấn mạnh đấu tranh giai cấp là không phù hợp, là sai lầm “tả” khuynh, giáo điều.
(PGS.TS Vũ Quang Hiển – ĐHQGHN, Tạp chí Lịch sử Đảng)
NGUYỄN ÁI QUỐC CHUẨN BỊ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
- Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng:
Từ nước ngoài Người đã viết và gửi các sách báo, tài liệu về Việt Nam như các báo Việt Nam hồn, Người cùng khổ, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tác phẩm “Đường Kách Mệnh”…để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ rõ con đường cách mạng mà nhân dân ta cần đi theo.
- Năm 1927 những bài giảng, bài viết của NAQ đã được xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh. Trong tác phẩm này NAQ đã vạch ra phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng việt nam.
- Nội dung hệ thống quan điểm đó là:
+ Vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân. Từ đó xác định: chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp của nhân dân các nước thuộc địa.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng của thời đại – cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở các nước tư bản (“chính quốc”) có quan hệ khăng khít với nhau. Phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và “chính quốc”. Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”, mà có tính chủ động, độc lập và có thể thành công trước.
+ Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng: cách mạng ở thuộc địa trước hết là giải phóng dân tộc, sau đó mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn nhân dân lao động, giải phóng con người, tức là làm cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Về lực lượng cách mạng: “công nông là người chủ cách mệnh”, “là gốc cách mệnh”; công nhân là giai cấp lãnh đạo, tiểu tư sản trí thức là bạn đồng minh của cách mạng.
+ Về phương pháp cách mạng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cần được giác ngộ và tổ chức lại thành đội ngũ vững bền; hiểu biết tình thế, có sách lược, “có mưu chước”, kế hoạch.
+ Về đoàn kết quốc tế: phải thực hiện liên minh, đoàn kết với các lực lượng cách mạng quốc tế; phải nêu cao tính chủ động cách mạng, ý thức tự lực, tự cường.
+ Về vai trò của Đảng: phải có đảng cách mạng lãnh đạo. Đảng muốn vững phải có học thuyết cách mạng, đó là học thuyết Mác – Lênin; phải biết vận dụng đúng đắn học thuyết đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
=> Hệ thống quan điểm lý luận của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa là sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho Đảng Cộng sản ra đời và định hướng cho cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
- Sự chuẩn bị về tổ chức:
+ 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng châu (Trung Quốc), tham gia sáng lập “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông” để thống nhất hành động chống chủ nghĩa thực dân.
+ Tháng 6 năm 1925 Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên với cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo Thanh niên; trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện ở Quảng Châu, xuất bản sách “Đường Kách Mệnh” từ tập bài giảng của Người trong lớp huấn luyện đó.
+ Từ năm 1925 – 1927, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau khóa học. một số cán bộ được cử đi học tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản; một số được cử học tại Trường Quân sự Hoàng phố con phần lớn cán bộ sau khi được huấn luyện được cử về nước tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức quần chúng
- Kết quả của sự chuẩn bị:
+ Chủ nghĩa Mác- Lênin và đường lối cách mạng vô sản được truyền bá ngày càng sâu rộng vào Việt Nam.
+ Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên phát triển mạnh mẽ trên khắp các miền của đất nước và kiều bào nước ngoài.
Trong khoảng thời gian 10 năm (1920-1929), bằng những hoạt động sôi nổi và có hiệu quả, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ những yếu tố cần thiết về tổ chức, chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ nước ngoài Người đã viết và gửi các sách báo, tài liệu về Việt Nam như các báo Việt Nam hồn, Người cùng khổ, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tác phẩm “Đường Kách Mệnh”…để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ rõ con đường cách mạng mà nhân dân ta cần đi theo.
- Năm 1927 những bài giảng, bài viết của NAQ đã được xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh. Trong tác phẩm này NAQ đã vạch ra phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng việt nam.
- Nội dung hệ thống quan điểm đó là:
+ Vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân. Từ đó xác định: chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp của nhân dân các nước thuộc địa.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng của thời đại – cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở các nước tư bản (“chính quốc”) có quan hệ khăng khít với nhau. Phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và “chính quốc”. Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”, mà có tính chủ động, độc lập và có thể thành công trước.
+ Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng: cách mạng ở thuộc địa trước hết là giải phóng dân tộc, sau đó mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn nhân dân lao động, giải phóng con người, tức là làm cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Về lực lượng cách mạng: “công nông là người chủ cách mệnh”, “là gốc cách mệnh”; công nhân là giai cấp lãnh đạo, tiểu tư sản trí thức là bạn đồng minh của cách mạng.
+ Về phương pháp cách mạng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cần được giác ngộ và tổ chức lại thành đội ngũ vững bền; hiểu biết tình thế, có sách lược, “có mưu chước”, kế hoạch.
+ Về đoàn kết quốc tế: phải thực hiện liên minh, đoàn kết với các lực lượng cách mạng quốc tế; phải nêu cao tính chủ động cách mạng, ý thức tự lực, tự cường.
+ Về vai trò của Đảng: phải có đảng cách mạng lãnh đạo. Đảng muốn vững phải có học thuyết cách mạng, đó là học thuyết Mác – Lênin; phải biết vận dụng đúng đắn học thuyết đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
=> Hệ thống quan điểm lý luận của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa là sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho Đảng Cộng sản ra đời và định hướng cho cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
- Sự chuẩn bị về tổ chức:
+ 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng châu (Trung Quốc), tham gia sáng lập “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông” để thống nhất hành động chống chủ nghĩa thực dân.
+ Tháng 6 năm 1925 Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên với cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo Thanh niên; trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện ở Quảng Châu, xuất bản sách “Đường Kách Mệnh” từ tập bài giảng của Người trong lớp huấn luyện đó.
+ Từ năm 1925 – 1927, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau khóa học. một số cán bộ được cử đi học tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản; một số được cử học tại Trường Quân sự Hoàng phố con phần lớn cán bộ sau khi được huấn luyện được cử về nước tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức quần chúng
- Kết quả của sự chuẩn bị:
+ Chủ nghĩa Mác- Lênin và đường lối cách mạng vô sản được truyền bá ngày càng sâu rộng vào Việt Nam.
+ Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên phát triển mạnh mẽ trên khắp các miền của đất nước và kiều bào nước ngoài.
Trong khoảng thời gian 10 năm (1920-1929), bằng những hoạt động sôi nổi và có hiệu quả, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ những yếu tố cần thiết về tổ chức, chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010
ĐÔI DÉP
Bài thơ đầu anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ
Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau
Cùng bước cùng lùi không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác S
ố phận chiếc này phụ thuộc vào chiếc kia
Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi
Không thể thiếu nhau trên bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng em yêu anh bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu
Cũng như mình trong những lúc mất nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc C
hỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia...
Nguyễn Trung Kiên
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ
Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau
Cùng bước cùng lùi không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác S
ố phận chiếc này phụ thuộc vào chiếc kia
Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi
Không thể thiếu nhau trên bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng em yêu anh bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu
Cũng như mình trong những lúc mất nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc C
hỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia...
Nguyễn Trung Kiên
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)